Cao hổ cốt, tác dụng chữa bệnh của Cao hổ cốt

CAO HỔ CỐT


Cao hổ cốt, cao ho cot, caohocot

Tên khác

Tên thường gọi:
Cao
hổ cốt, cao hổ, cao xương hổ hay hổ cốt là loại cao được nấu và cô đặc từ bộ
xương của con hổ.

Nếu như một số loại khác như: cao ngựa, cao gấu, cao khỉ là
loại cao toàn tính (nấu cả xương và thịt) thì cao hổ lại chỉ nấu bằng xương. Từ
xa xưa người Trung Quốc và người Việt Nam rất coi trọng giá trị của cao hổ, do
đó giá cả của cao hổ cốt cũng trở nên đắt đỏ hơn so với nhiều loại cao khác.
Chính vì thế mà loài hổ đã bị săn bắn hàng loạt để lấy xương phục vụ cho việc
nấu cao, và các sản phẩm như nanh, vuốt, da được sử dụng để làm các sản phẩm
trang trí, túi sách, quần áo,…

 Cao hổ cốt

( Mô tả, hình ảnh, thu hái, chế biến, thành phần hoá học, tác
dụng dược lý
….)

Bộ phận
dùng, cách nấu cao hổ cốt:

Toàn bộ xương
con hổ. Nấu cao hổ cốt phải dùng toàn bộ xương con hổ, không nên thiếu miếng
xương nào và không được lẫn các xương khác. Do đó phải có người tinh thạo,
biết xem xương và chọn lọc xương. Xương hổ quý nhất là xương tay (hổ hình
cốt) rồi xương chân, xương đầu, xương sống liền với xương đuôi (không thể
thiếu những xương này được). Xương tay hơi vặn ở khuỷu, có một lỗ ‘thông
thiên’; đặc điểm này dùng phân biệt xương hổ, xương beo với các xương khác:
răng hàm có hình chữ ‘tam sơn’. Hổ chết trong rừng lâu ngày xương trắng bợt,
nếu ngâm nước lâu thì bị ải, hổ săn bắn được thì xương dính liền nhau, trắng
ngà, để hơi vàng. Xương hổ tốt nhất nặng 10 – 15kg. Nếu có đủ 5 bộ xương
cùng nấu thì tốt nhất, nếu không một bộ trên 10kg cũng tốt. Một kg xương đã
chế nấu được độ 230g cao mềm, cho nên nấu cao hổ cốt người ta thường nấu lẫn
với xương Sơn dương (tỷ lệ 1/5). Nếu được “ngũ dương nhị hổ” thì càng có lực
mạnh. Xương sơn dương nấu với xương hổ cũng phải làm sạch như gạc (sạch tuỷ,
gân, thịt).

Cách nấu cao hổ

Sau khi có được xương hổ, để có loại cao tốt thì việc nấu cao hổ phải trải
qua 3 giai đoạn: Làm sạch xương, tẩm sao và nấu cô.

Làm sạch

Một khúc xương cánh tay của hổ

Ở giai đoạn thứ nhất, làm sạch là phải bỏ hết thịt gân và tuỷ bằng cách ngâm
xương với nước vôi loãng hoặc đem luộc với lá đu đủ non. Xương hổ dù để nấu
cao cũng phải làm rất sạch, bỏ hết thịt, gân, tủy. Nếu không làm sạch sẽ
hỏng cao, nấu xong dễ sinh giòi, thậm chí còn gây độc cho người dùng.

Xương bánh chè cũng cần phải loại bỏ hết gân và tủy, phải ngâm tẩm với nước
gừng, sao khô và tẩm rượu, phơi khô trong nơi râm vài ba tháng. Nếu uống
sống xương còn tươi, còn tủy rất nguy hiểm, đặc biệt hại gan và thận vì đi
vào hai kinh này trước. Hổ ăn thịt sống và thịt thối đều tiêu hóa được,
người không ăn được như hổ nên khi uống xương hổ vào có thể cấp tính gây suy
thận hoặc tích độc gây suy gan, hỏng thận.

Phải đem xương tươi hoặc xương khô nhưng còn dính thịt cho vào nước vôi
loãng đun sôi rồi ngâm một đêm và mang ra rửa thật sạch. Cũng có khi người
ta luộc xương với lá rau cải. Xương luộc xong, đem ra lấy trấu thóc nếp hoặc
cát mịn đánh cho đến khi sáng bóng lên. Sau đó đem cưa xương ra từng khúc
ngắn như khẩu mía, chẻ nhỏ ra, xương nhỏ thì đập vỡ rồi đem luộc với dấm
trong vài phút để làm sạch tủy. Rồi lại vớt xương ra, cho vào vại, đổ nước
vào rồi đánh đều tay… các mảnh xương cọ vào nhau sẽ làm sạch những tủy,
thịt, gân còn sót…

Người dân miền núi từ lâu đời đã làm theo phương thức truyền thống là cho bộ
xương vào rọ, đem ra suối ngâm khoảng hai tháng cho rữa hết thịt, gân bám ở
xương rồi đem xương đó phơi ở chỗ râm trong khoảng vài ba tháng nữa, khi nào
ngửi bộ xương không còn mùi nữa là được. Cách này là tối ưu, cho bộ xương hổ
sạch và có chất lượng tốt nhất.

Tẩm sao:

Ở giai đoạn thứ hai, là tẩm sao, dùng trấu, cát chà xương cho sạch bóng, rửa
kỹ rồi đem phơi hoặc sấy khô. Cưa xương thành những khúc ngắn như khẩu mía
dài chừng 5 – 6 cm, chẻ làm 2 – 3 mảnh, xương nhỏ thì đập giập rồi đem luộc
với nước giấm. Tiếp đó, rửa thật sạch và đem phơi hoặc sấy khô. Khi đó xương
mới được đem tẩm sao và có nhiều kiểu tẩm sao tùy theo từng địa phương. Có
nơi tẩy bằng nước rau cải, bằng nước lá trầu không, sao bằng mỡ dê, ngâm với
nước sắc khương hoàng và hùng hoàng, ngâm với giấm rồi cho vào sao cát, cuối
cùng sao lại bằng mỡ dê. Có nơi ngâm nước lá trầu không, ngâm nước rau cải
xóc với giấm, tẩm mỡ dê, rửa bằng nước gừng pha rượu, sao cát cho vàng…

Cô đặc

Ở giai đoạn cuối, nấu cao hổ cốt tốt nhất phải có 05 bộ xương hổ và cứ 01 kg
xương đã chế biến theo đúng quy chuẩn sẽ nấu được hơn 200g cao. Bí kíp của
việc nấu cao hổ cốt chủ yếu nằm trong bình lọc nước canh cô, thành phần của
bình lọc sơ bộ phải có 5 lớp: trấu mới, than xương, một loại dược liệu đặc
biệt có khả năng khử tủy xương, cát thô, sỏi thô. Khi cô cao, chỉ đổ cao khi
cao chuyển sang giai đoạn bọt cao nhỏ, nếu không cao sẽ bị nhão vì hút ẩm
mạnh. Hầu như không thể nấu được cao xương hổ nguyên chất vì không thể đúc
khuôn được. Người ta thường pha thêm xương sơn dương với tỷ lệ 05 xương hổ
01 xương sơn dương (thịt và xương của sơn dương cũng thường được nấu cao với
tên cao sơn dương, tuy nhiên chúng không nằm trong khảo sát của bài này).

Từ công thức đó người ta thường có câu phi sơn dương bất thành hổ cốt, tuy
nhiên câu này cũng không hoàn toàn đúng trong mọi trường hợp. Người ta nấu
cao hổ cốt riêng để dễ dàng xác định tỷ lệ cao hổ nguyên chất chiếm bao
nhiêu phần trăm, còn cơ bản vẫn phải bổ sung một số thành phần tùy theo nhu
cầu sử dụng thực tế. Nếu nhằm chữa khớp nên thêm 1 cân mộc qua, 1 kg thiên
niên kiện dạng dược liệu thô. Nếu chỉ nhằm tăng cường sức khỏe và tuổi thọ
nên dùng yếm rùa vàng, dùng cho dương sự thêm vào đó là gạc hươu, gạc nai.

Bộ xương hổ để nấu cao, tốt nhất là phải nặng trên 10 kg, nếu được từ 15 kg
trở lên thì tuyệt vời và đặc biệt là phải đầy đủ, không được thiếu mảnh
xương nào và cũng không được lẫn các loại xương khác, trong đó không thể
thiếu xương chân trước và xương bánh chè[5]. Vào thời điểm hiện tại để nấu
được một lạng cao hổ thành phẩm phải bỏ ra khoảng 20 triệu đồng (cứ 10 kg
xương hổ kèm 3 kg xương sơn dương)[1] Khi nấu phải nấu ba nước, cô chung
trực tiếp rồi cô cách thủy, đảo đều và kỹ, bọc giấy bóng. Khi cao đã được
thì lấy xương hổ (lúc này đã mủn như vôi bột) rải xuống mâm và đổ cao lên.

Thành phần hóa học

Y học hiện đại
phân tích: trong thành
phần xương hổ (hổ cốt) có chứa collagen, mỡ, calcium phosphate, calcium
carbonat, magiesium phosphat, trong đó collagen là hoạt chất chính, gelatin
của hổ cốt chứa 17 amino acid, lượng acid amin trong xương hổ cao gấp 900
các loại xương động vật khác và tỷ lệ đạm toàn phần rất cao.

Thành phần hóa học của
xương hổ gồm: canxi, phốtpho, protein, chất keo để thủy phân cho các axít
amin. Như vậy, cao hổ cốt có chứa
calcium phosphate, calcium carbonate, collagen, mỡ, magiesium phosphate về
cơ bản giống như các loại cao xương động vật khác. Thành phần đạm toàn phần
trong cao hổ cốt là 14,93 đến 16,66, tương đương cao gấu, cao khỉ, cao ban
long, tỉ lệ axít amin cũng tương tự

Vị thuốc cao hổ cốt

Tính vị:

Cao hổ cốt vị mặn, tính ấm

Quy kinh:

Vào kinh can, thận

Tác dụng:

Bổ dương, trục phong hàn, trấn thống (giảm đau), làm mạnh gân cốt,
trừ thấp; thường được dùng để chữa các chứng tê thấp, đau nhức gân xương, đi
lại khó khăn, chân tay co quắp,
thoái hóa xương khớp, suy nhược cơ thể…

Có thể nói, cao xương hổ có hai thế mạnh là: bổ dưỡng cơ thể và phòng chống
các bệnh lý liên quan đến xương khớp như viêm đa khớp dạng thấp, thoái khớp
gối, hư xương sụn cột sống cổ và cột sống thắt lưng, viêm cột sống dính khớp,
viêm quanh khớp vai, viêm gân, gãy xương lâu liền, loãng xương…

Kiêng kị:

Lương y quốc gia Nguyễn Hữu
Toàn cho biết: Cao hổ cốt có tính nóng và trợ dương khá mạnh nên những người
có thể chất hoặc bị mắc các chứng bệnh thuộc thể âm hư hỏa vượng không nên
dùng. Người huyết áp cao khi dùng sẽ làm tăng huyết áp, có thể dẫn tới đột
quỵ. Bệnh nhân bị viêm gan, suy thận, bệnh tim, tiểu đường không nên sử dụng
cao hổ cốt. Ông cũng đưa ra lời khuyên cho mọi người: các loại cao từ hổ,
gấu, ngựa chỉ có tác dụng trừ phong thấp, đau gân giãn cốt chứ không có tác
dụng bổ thận tráng dương. Do đó các quý ông cũng không nên nghe các lời đồn
thổi, quảng cáo mà tự ý mua về ngâm rượu sử dụng.

Theo quy định pháp luật
nhiều nước trên thế giới việc săn bắt hổ là trái phép và bị cấm. Cùng với
voi và tê giác, hổ là loài động vật hoang dã có tên không chỉ trong Sách đỏ
Việt Nam mà còn trong Sách đỏ thế giới. Ở Việt Nam, mọi hành vi săn bắt, mua
bán hổ, kể cả các bộ phận từ cơ thể hổ như nanh, da, móng vuốt hay cao nấu
từ xương hổ đều bị xử lý theo luật pháp. Ở mức độ nghiêm trọng có thể bị
truy cứu trách nhiệm hình sự.

Hiện tại Phòng khám Đông y
Nguyễn Hữu Toàn đã không còn sử dụng cao hổ cốt trong kê đơn và điều trị
bệnh. Hàng loạt các vị thuốc khác giá thành rẻ, khi dùng kết hợp với nhau có
tác dụng điều trị bệnh xương khớp rất hiệu quả đã được thay thế cho các loại
cao từ các loại động vật như: cao khỉ, cao hổ cốt, cao gấu,…

Cũng theo giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn
Tuấn khẳng định: “Đến nay chưa có nghiên cứu khoa học nào trong y văn
cho thấy cao hổ cốt có hiệu quả điều trị bệnh viêm khớp xương hay loãng
xương. Hoàn toàn không có”

Chính vì sự đắt đỏ và quý
hiếm của cao hổ cốt mà đã có không ít những lời đồn thổi phồng sự thật về
tác dụng của cao hổ như: uống rượu ngâm cao hổ cốt có tác dụng: người yếu
khỏe loại, đặc biệt tốt cho hệ xương khớp, và đặc biệt tốt cho sức khỏe tình
dục.

Tham khảo thêm về cao hổ cốt

Cách
phân biệt cao hổ cốt thật và cao hổ cốt giả

Cao hổ cốt
thực nấu với tỷ lệ 5 hổ một sơn dương, nấu đúng kĩ thuật thì có mầu vàng ngà
hơi trong, người lành nghề có thể kiểm định được, như người thợ rèn nhìn mầu
lửa trong lò có thể biết được nhiệt độ, nhưng khó mà miêu tả cho người khác
hiểu được. Còn người dùng thật khó phân biệt thật giả. Người ta có truyền
miệng một số cách thử như: nếu là cao hổ thật thì ngọn cỏ tươi cắm trên mặt
cao phải héo úa, chó ngửi thấy phải bỏ chạy, hoặc người uống cao sẽ cảm thấy
một luồng khí nóng chạy khắp cơ thể hoàn toàn là những chuyện thần thoại hóa
cao hổ mà thôi, chúng tôi đã thử nghiệm trên thực tế không xẩy ra những hiện
tượng nêu trên.

Cao
hổ cốt rởm

Hiện tại hổ
là động vật quí hiếm, đã được đưa vào sách đỏ và có nguy cơ tuyệt chủng.
Nhưng hiện tại ở việt nam nhiều người đã nuôi và cho sinh sản thành công
giống hổ đông dương, nhưng số lượng vẫn còn rất hạn chế, cho nên Cao hổ cốt
vẫn là một chế phẩm rất đắt đỏ vì vậy kẻ xấu thường tìm mọi phương cách chế
ra cao hổ cốt “rởm” để trục lợi.

Những thủ
đoạn thường được dùng là:

– “Treo đầu
dê bán thịt chó”: nghĩa là bầy bộ xương hổ thật ra để bán cao rởm, họ bầy
ra một bộ xương, mời thật nhiều người chung, họ cũng chỉ lấy mấy lạng, nhưng
họ bán vài cân vẫn chưa hết cao

– “Điêu khắc”
: dùng nghệ thuật điêu khắc, gọt rũa, đánh bóng chế tác ra những bộ xương
hổ “rởm” từ các loại xương động vật khác để lừa bán trục lợi. Xương gấu
thường được sử dụng nhiều nhất vì khá giống xương hổ, rẻ tiền hơn và lại dễ
chế tác. Thậm chí với công nghệ lăng xê, nối, cạo, mài, khoan… kẻ xấu còn
dùng cả xương lợn, xương trâu, xương bò, xương chó… để tạo ra hổ cốt “rởm”
mà nom như thật!

– “Giải phẫu
thẩm mỹ”: cắt ghép khâu vá một số động vật thành “hổ tươi nguyên con, ướp
lạnh”. Ví dụ kẻ xấu thường tìm mua giống chó bò hung dữ và có vóc dáng to
lớn, nặng từ 50-60kg, thậm chí có con nặng tới 100kg, mõm ngắn, đầu tròn, bộ
mặt ngắn tũn và nhăn nhúm rồi nhuộm lông, uốn xương, tạo dáng, ướp lạnh…
làm cho có hình hài trông giống như hổ thật. Hiện nay, tại Thái Lan cũng đã
xuất hiện công nghệ “giải phẫu thẩm mỹ cho chó thành hổ” bán sang việt nam
để nấu cao

– Trộn một số
thuốc Tây vào cao xương hổ để tạo ra cảm giác “hiệu nghiệm” tức thì nhằm tạo
niềm tin cho khách hàng và khiến họ sẵn lòng bỏ tiền ra mua. Ví như, kẻ xấu
thường trộn vào cao hổ cốt các thuốc có tác dụng chống viêm, giảm đau mạnh
để lừa những người đang bị hành hạ bởi chứng đau khớp.

Tham khảo ý kiến của Lương y Nguyễn Hữu Toàn

Bài thuốc chữa đau khớp vai hiệu quả

Ăn kiêng cho người bị viêm khớp dạng thấp

Tag: cao ho cot, vi thuoc cao ho cot, tac dung cua cao ho cot, hinh anh cao ho cot, thuoc nam

Annhienduong.com Tổng hợp

*************************

Cù mạch, tác dụng chữa bệnh của Cù mạch


CÙ MẠCH

Tên khác

Tên thường gọi: Cẩm chướng thơm, Cẩm nhung, Cồ Mạch (Cồ là lớn, mạch là lúa. Vị này giống như hạt lúa mạch mà lớn
hơn nên gọi là Cồ mạch). Ngoài ra Cù mạch còn được gọi là Cự câu mạch (Bản Kinh), Đại lan (Biệt Lục), Cự mạch, Tư nuy (Quảng Nhã), Đại cức (Nhĩ Nhã), Thạch trúc (Nhật Hoa Tử Bản
Thảo), Lạc dương nam thiên trúc thảo (Bản Thảo Cương Mục),
Địa miến, Lung tu, Đại cúc tử, Đại lan tử, Tứ thời mỹ, Đổ
lão thảo tử, Thánh lung thảo tử, Nam thiên trúc thảo tử
(Hòa
Hán Dược Khảo).

Tên tiếng Trung: 瞿 麥

Tên khoa học: Dianthus
caryophyllus
Linn.

Họ khoa học: Caryphyllaceae.

Cây Ba gạc Ấn độ

(Mô tả, hình ảnh cây Ba gạc Ấn độ, phân bố, thu hái, chế biến, thành phần hóa học, tác dụng dược lý…)

Mô tả:

Hình ảnh Cù mạchThân mọc bò trên mặt đất rồi mọc đứng, màu xanh lam. Hoa đơn
độc hay tụ họp thành những xim 2 ngã, có một tổng bao gồm 4
lá bắc. Đài hợp thành ống dài, có 5 răng. Nhị to. Bầu 1 ô, 2
vòi. Quả nang hình trụ có 4 mảnh vỏ. Hạt giẹp. Ra hoa vào
mùa xuân, mùa hạ.

Phân biệt:

Còn có nhiều loại khác như cây Diathus chinensis Lin (Cẩm
chướng gấm) là cây cỏ cao 40-50cm, thân tròn. Lá mọc đối
không lông, dính nhau ở đáy, hình muỗng dài 10cm. Tụ tán như
hoa đầu, hoa có nhiều đài phụ như kim, dài 1,5cm, xanh, vàng
rộng 3cm hay hơn, cánh hoa có bớt trắng đỏ, hường, hay tím,
đầu có răng. Hay có nhiều ở Đà Lạt.

Ngoài các cây trên được dùng với tên Cồ mạch. Có nhiều tác
giả cũng dùng cây Diathus supebus Linn, với tên Cồ mạch để
làm thuốc.

Phân bố:

Cây được nhập nội trồng làm cảnh, có nhiều ở Đà Lạt.

Thu hái, sơ chế:

Thu hái toàn cây vào trước sau tiết Lập thu hằng năm phơi âm
can.

Phần dùng làm thuốc:

Hạt (Diathi semen), ngọn non, toàn cây.

Mô tả dược
liệu:

Cồ mạch dùng toàn cây (hạt, hoa, lá). Lá cây có nhiều
lá mọc đối, có thể có cả hoa, bỏ hết gốc rễ, lá cành nguyên,
sạch tạp chất, không mốc, sâu vụn nát là tốt. Hạt nhỏ hình
tròn cạnh dài, lúc chín rời rụng ra, màu đen phẳng và dẹp
giống như hạt mè.

Bào chế:

Hình ảnh vị thuốc cù mạch

Phương pháp bào chế xưa: Khi dùng chỉ nên dùng ngọn non
chưa thành búp, không dùng thân lá, nếu một lúc dùng cả 2
gặp lúc đói làm cho nghẹn, tiêu không tự chủ. Khi dùng nên
ngâm với nước Trúc lịch 1 giờ rồi phơi nắng (Lôi Công Bào
Chế Dược Tính Luận).

Ngày nay người ta bào chế bằng cách lúc cây chưa có hoa nở
thì cắt lấy cả cây phơi khô. Khi dùng tẩm ướt, cắt ra từng
đoạn. Dùng sống, cũng có khi sao qua rồi tán bột dùng.

Bảo quản:

Dễ hút ẩm, sinh mốc, vụn nát. Để nơi khô ráo, thoáng
gió-thỉnh thoảng đem phơi nắng.

Vị thuốc Cù mạch

(Công dụng, liều dùng, quy kinh, tính vị…)

Tính vị:

Vị đắng, tính lạnh, không độc.

Quy kinh:

Vào kinh Tâm, Tiểu trường.

Tác dụng:

Lợi tiểu, đồng thời có tác dụng phá huyết thông kinh.

Chủ trị:

Trị tiểu gắt, nhiềm trùng đường tiểu, tiểu ra máu, bế
kinh

Gần đây người ta nghiên cứu để trị ung thư.

Liều dùng:

Dùng từ 6-15g.

Kiêng kỵ:

Tỳ Thận hư mà không có thấp nhiệt cấm dùng, phụ nữ có thai
cấm dùng-Ghét Phiêu tiêu.

Ứng dụng lâm sàng của vị thuốc Cù mạch:

+’Bát chính tán’ lợi tiểu trường, nhiệt kết bế.

Tiểu không thông, có thủy khí:

Cù mạch 6g 5. Qua lâu căn
60g, Đại kê tử (Trứng gà lớn) 1 cái, Phục Linh, Sơn vu mỗi
thứ 90g, tán bột, trộn với mật làm thànhviên to bằng hạt
ngô đồng, mỗi lần uống 3 viên, ngày 3 lần. Nếu chưa có hiệu
quả thì thêm 7-8 viên, khi nào tiểu thông, ấm trong bụng là
được (Qua Lâu Cù Mạch Hoàn- Kim Qủy Yếu Lược).

Trị hạ tiêu kết nhiệt, tiểu lắt nhắt hoặc có máu, đại
tiện ra máu

Dùng Cù mạch tuệ 30g. Chích cam thảo 7 chỉ
1,5g, Sơn chi (sao) 15g tán bột, lần uống 7 chỉ với nước sắc
Liêm tu, Thông bạch, Đăng tâm 50 ngọn, Gừng sống 50 lát, 2
chén nước sắc còn 7 phân uống (Lập Hiệu Tán – Thiên Kim
Phương).

Tên, dao đâm vào thịt, nuốt phải vật gì vào họng không
ra được: dùng bột Cù mạch uống với rượu, ngày uống 3 lần,
mỗi lần 9g (Thiên Kim Phương).

Tiểu đỏ, sạn đường tiểu:

Cù mạch tử đâm bột uống 6g với
rượu ngày 3 lần, 3 ngày thì ra (Ngoại Đài Bí Yếu ).

Hóc xương:

Cồ mạch tán bột sắc uống (Ngoại Đài Bí Yếu).

Thai chết lưu, chuyển bụng lâu không đẻ:

Sắc Cù mạch
uống (Thiên Kim Phương).

Cửu khiến ra máu, uống thuốc không cầm, dùng Cù mạch 1
nắm lớn bằng ngón chân cái, Sơn chi tử nhân 30 hạt, Gừng
sống 1 lát, Chích cam thảo 15g, Đăng tâm 1 nắm nhỏ, Đại táo
5 trái sắc uống (Thánh Tế Tổng Lục).

Đỏ mắt sưng đau, lèm nhèm:

Cù mạch sao vàng tán bột,
trộn nước dãi con ngỗng (ngan), xức vào đầu kẽ mắt hoặc giã
vắt lấy nước bôi (Phổ Tế Phương).

Mắt sinh ế, mộng thịt:

Cồ mạch, Càn khương sao tán bột
lần uống 6g với nước xức (Phổ Tế Phương).

Dằm tre đâm vào thịt:

Cù mạch tán bột uống hoặc sắc uống
ngày 3 lần (Mai Sư Phương).

Đơn thuốc phổ thông hiện nay:

Trị tiểu không thông:

Cù mạch 15g sắc uống (Lâm Sàng
Thường Dụng Trung Dược Học).

Trị tiểu ra máu:

Cù mạch 15g, Mã lan căn, Xa tiền thảo.
Ô liễm mai đều 30g sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược
Học).

Trị sỏi bàng quang:

Cồ mạch 12g, Hải kim sa 9g, Kim tiền
thảo 30g, Hoạt thạch 9g, Cam thảo 3g 5, sắc uống (Lâm Sàng
Thường Dụng Trung Dược Học).

Phá huyết thông kinh, trị bế kinh ứ huyết:

Cồ mạch, Đơn
sâm, Xích thược mỗi thứ 9g, Ích mẫu thảo 15g, Hồng hoa 6g,
sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Học).


Tham khảo
:

Cù mạch thông lợi được những chứng thuộc ngũ lâm, kinh
nguyệt không thông, phá được huyết tích, huyết khối, có tác
dụng bài mủ, chỉ thống rất hay (Nhật Hoa Chư Gia Bản Thảo).

Cù mạch bẩm thụ được khí âm hàn, sách Biệt lục cho rằng Cù
mạch kiêm cả vị cay mà không độc hai vì tính cay đắng, nên
phá được huyết, vì âm hàn nên giáng được khí. Nó thông lợi
được phần dưới, các khớp, các chứng nung kết, tiểu tiện
không thông vì nhiệt ở tiểu trường vì tính hàn nên giải được
nhiệt độc ấy. Có tính cay nên tiêu tan được những chỗ kết tụ.
Khi bàn đến nó là biết được dụng trị được mụn nhọt, sưhg
đau, trừ thấp nhiệt, sáng mắt, tan mộng màng ở mắt. Vì vị
cay mà tính lạnh nên phá được huyết tụ có thể màl trụy thai,
hạ được huyết bế, trừ thấp nhiệt ở Thận. Khi bị bệnh thấp
nhiệt, khí còn bám vào trung tiêu, lúc ấy thanh khí và trọc
khí chữa thấp nhiệt thông rồi thì tự nhiệt chứng hoắc loạn
phảikhỏi (Bản Thảo Kinh Sơ).

Công dụng của Cù mạch không ngoài 4 chữ: Phá huyết và Lợi
khiếu, vị này không phải uống lâu được, khi dùng cần phải
sao qua (Bản Thảo Đồ Giải).

Cù mạch vị đắng, tính hàn, công dụng chính là chuyên lợi
thủy và tả tâm, nó bẩm thụ được khí thuần dương nên những
chứng tiểu trường có hàn khí, bệnh còn đang thiệt thì không
dùng, người ta dùng nó vì có sức sơ tiết bệnh mới khỏi được.
Những người tiểu trường vốn đã hư rồi thì theo Nội Kinh:
‘Tuy nhiệt ở Tâm kinh mà ở tiểu trường bị hư thì có dùng nó
cũng không khỏi được nóng mà hư lại càng thêm hư và biến
chứng khác. Người sản hậu hay có thai, tiểu không thông thì
không nên dùng nó. Những người Tỳ hư, phù thủng phải kiêng
cữ (Bản Thảo Cầu Chân).

Bệnh nhân mạch phù, tiểu không thông, xem ra hơi có nhiệt
mốt chút mà kèm thao khát nước nên dùng bài ‘Ngũ Linh Tán’.
Bệnh nhân mạch phù phát sốt khát nước, tiểu không thông thì
dùng vào ‘Trư Linh Thang’ Nếu tiểu không thông mà có thêm
thủy khí, khát nước thì dùng bài ‘Qua Lâu Cù Mạch Hoàn’ rất
hay (BảnThảo Sơ Chứng).

.. Xưa nay vị Cù mạch dùng làm thuốc chính trong việc thông
Tâm kinh, lợi tiểu trường (Tô Cung).

Cây Cù mạch còn cho lá gọi là ‘Cù mạch diệp’ trị trĩ rò,
đồng thời có tác dụng tả huyết, nấu cháo ăn trị sán đũa trẻ
con. Chữa mắt sưng đau, sưng độc. Giã lá nát lấy nước trị lở
loét chảy nước, lở âm hộ của phụ nữ (Trung Quốc Dược Học Đại
Từ Điển).

Cồ mạch có tác dụng lợi tiểu rất mạnh, đồng thời lại có
tác dụng làm cho
huyết áp thấpxuống. Có thể dùng cho bệnh
sán máng (Huyết hấp trùng bệnh) (Giản Minh Trung Y Học).

Cù mạch trị chứng lâm mà nhiệt nhiều hơn thấp niệu đạo
nóng đau kèm tiểu ra máu (Thực Dụng Trung Y Học).

Nơi mua bán vị thuốc CÙ MẠCH đạt chất lượng ở đâu?

Trước thực trạng thuốc đông dược kém chất lượng, nguồn gốc không rõ ràng,… xuất hiện tràn lan trên thị trường, làm ảnh hưởng tới hiệu quả điều trị cũng như ảnh hưởng tới sức khỏe của bệnh nhân. Việc lựa chọn những địa chỉ uy tín để mua thuốc đông dược là rất quan trọng và cần thiết. Vậy khách hàng có thể mua vị thuốc CÙ MẠCH ở đâu?

CÙ MẠCH là vị thuốc nam quý, được sử dụng rộng rãi trong YHCT. Hiện tại hầu hết các cửa hàng thuốc đông dược, phòng khám đông y, phòng chẩn trị YHCT… đều có bán vị thuốc này. Tuy nhiên người mua nên chọn những địa chỉ có uy tín, đảm bảo chất lượng, có giấy phép hoạt động để mua được vị thuốc đạt chất lượng.

Với mong muốn bệnh nhân được sử dụng những loại dược liệu đúng, chất lượng tốt, Nhà thuốc Đông y An Nhiên Đường không chỉ là đia chỉ khám chữa bệnh tin cậy, uy tín chất lượng mà còn cung cấp cho khách hàng những vị thuốc đông y (thuốc nam, thuốc bắc) đúng, chuẩn, đạt chất lượng cao.

Các vị thuốc có trong tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam đều được nghành y tế kiểm nghiệm đạt chất lượng tiêu chuẩn.

Vị thuốc CÙ MẠCH được bán tại Phòng khám là thuốc đã được bào chế theo Tiêu chuẩn NHT.

Giá bán vị thuốc CÙ MẠCH tại Nhà thuốc Đông y An Nhiên Đường: Gọi 035.2345.848 để biết chi tiết

Tùy theo thời điểm giá bán có thể thay đổi.

+ Khách hàng có thể mua trực tiếp tại địa chỉ phòng khám:

Văn Quán, Hà Đông, Hà Nội

Tag: cay cu mach, vi thuoc cu mach, cong dung cu mach, Hinh anh cay cu mach, Tac dung cu mach, Thuoc nam

Annhienduong.com Tổng hợp

*************************

Phá cổ chỉ, tác dụng chữa bệnh của Phá cổ chỉ

Phá cố chỉ

Tên
khác:

Bà cố chỉ, Hồ phi tử, Thiên đậu, Phản cố chỉ, Bà cố
chỉ, Bồ cốt chi, Bổ cốt chỉ, Hắc cố tử, Hồ cố tử, Cát cố tử, phá cốt tử,
cố tử, hạt đậu miêu

Tên khoa học: Psoralea Corylifolia L.

Họ khoa học: Họ Cánh Bướm
(Fabaceae (Papilionaceae).

Tên tiếng Trung补骨脂

Cây Phá cố chỉ

( Mô tả, hình ảnh cây Phá cố chỉ, thu hái, chế biến, thành phần hoá học, tác dụng
dược lý
….) Hình ảnh cây phá cố chỉ, vị thuốc phá cố chỉ, phá cố chỉ

Mô tả:

Cây thảo cứng, ít phân nhánh, cao tới 1m. Lá chỉ có 1 lá
chét hình trái xoan, có răng thô, cả hai mặt có nhiều tuyến
hình mắt chim, màu đen. Hoa vàng đến hơn 20 cái xếp thành
đầu hình trứng. Quả đậu hình trứng, hơi bị ép đen, sần sùi.
Hạt đơn độc dính với vỏ quả, có màu nâu đen hay đen. Trên
mặt hạt có các vân hình những hạt nhỏ giữa hơi lõm, mùi thơm,
vị cay.

Phân bố:

Gốc ở Ấn độ, hiện có trồng ở nhiều nơi trong Việt Nam.

Thu hái,
sơ chế:

Thu hái vào tháng 9 lấy hạt phơi khô.

Phần dùng
làm thuốc:

Hình ảnh vị thuốc bổ cốt chỉ

Dùng hạt, hạt khô mẩy chắc đen, thơm, nhiều dầu,
hơi nồng là thứ tốt. Hạt lép, nát, không thơm là xấu. Để nơi
thoáng gió, cao ráo, mát.

Mô tả dược
liệu:

Bổ cốt chỉ dùng hạt chín khô, hình thận dẹt phẳng hoặc
hình tròn, trứng dài khoảng 3mm đến 4,5mm, rộng chưa đến
3mm, vỏ ngoài màu nâu sậm hoặc màu nâu đen, có vết teo nhăn
nhỏ hơi giống hình hạt, chính giữa lõm vào, chất hơi cứng,
nhân hạt màu vàng hạt nâu có nhiều chất dầu mùi thơm nồng
nặc.

Bào chế:

Hình ảnh vị thuốc bổ cốt chỉ chế muối

Theo Trung
Y: Sao qua với ít nước muối rồi phơi nắng cất dùng. Đem Bổ
cốt chỉ ngâm rượu một đêm, vớt ra ngâm nước một đêm, vớt ra,
phơi khô tẩm muối (100kg Bổcốt chỉ dùng 2,5kg muối) đun
nhỏ lửa sao qua dùng (Dược Tài Học).

Vị thuốc Phá cố chỉ

( Công dụng,Tính vị, quy kinh, liều dùng …. )

Tính vị:

Hình ảnh vị thuốc phá cố chỉ

Vị
đắng cay, Vị cay, rất ôn, không độc, Vị cay đắng, tính ấm,
Vị cay, đắng mà ngọt,

Qui kinh:

Hình ảnh vị thuốc bổ cốt chỉVào kinh Thận, Vào kinh thủ Quyết âm túc Thái âm và mệnh
môn,Vào kinh túc Dương minh Vị,Vào kinh tỳ, Thận, Tâm bào
lạc

Công dụng:

Ôn
thận, tráng dương, chỉ tả, Bổ Thận, tráng dương, cố tinh,
súc niệu, ôn Tỳ, chỉ tả

Chủ trị:

Trị
Thận hư, Di tinh, tiêu chảy, đái dầm, Trị
liệt dương, hoạt
tinh, đái dầm, tiểu nhiều, tiêu chảy do Tỳ hư

Liều dùng:

3-9g.

Kiêng kỵ:

Âm
hư hỏa vượng, dương vật hay cương lên di mộng tinh, bón, đái
ra máu, tiểu nhiệt, đỏ mắt, đắng miệng, khát nước do nội
nhiệt, đỏ mắt do hỏa thượng lên, ăn vào đói liền, yếu nhiệt
do phong thấp, yếu xương cấm dùng. Kỵ Vân Đài, huyết Dê và
các loại huyết khác. Nó được hồ Đào, Hồ ma giúp thì càng tốt.

Ứng dụng lâm sàng của vị thuốc Phá cố chỉ

 Trị tinh
khí dễ ra:

Hình ảnh vị thuốc bổ cốt chỉ chế muốiBổ cốt chỉ, Thanh diêm, 2 vị bằng nhau, sao, tán
bột, mỗi lần uống 6g với nước cơm.

 Trị tiểu
nhiều lần do thận khí hư hàn:

Bổ cốt chỉ 300g chưng với rượu.
Hồi hương 300g (sao muối), tán bột, trộn hồ làm viên với
rượu bằng hạt ngô đồng, mỗi lần uống 100 viên với nước muối
hoặc lấy bột này chấm thận heo nướng chín ăn.

 Trị trẻ
nhỏ đái dầm do bàng quang hư hàn:

Bổ cốt chỉ, sao, tán bột,
mỗi đêm uống 1,5g với nước nóng.

 Trị hư
nhược ở hạ nguyên, tay chân nặng nề, ra nhiều mồ hôi trộm

Bổ cốt chỉ 120g, chưng với rượu. Hồ đào nhục 30g
(bỏ vỏ), Trầm hương tán bột 4,5g, luyện với mật làm viên, to
bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 20-30 viên với muối, rượu
nóng lúc đói, uống từ tiết hạ chí đến đông chí, ngày 1 lần

 Trị hư
lao, suy nhược

Bổ cốt chỉ
480g, ngâm rượu 1 đêm, phơi nắng, rồi thêm vào 1 thăng dầu
mè, trộn đều, sao cho đến khi nào hạt mè hết nổ thì thôi,
xong rây bỏ mè đi, chỉ lấy Bổ cốt chỉ tán bột, dùng giấm nấu
bột gạo làm viên to bằng hạt ngô đồng, uống lúc bụng đói với
rượu nóng, muối loãng (Kinh Nghiệm Phương)

 Trị đau
lưng do thận hư:

Bổ cốt chỉ 30g, sao, tán bột, uống với rượu
nóng, mỗi lần 9ghoặc thêm Mộc hương 3g.

 Trị thận
khí suy nhược, phong lạnh thừa cơ hội ấy nhập vào, hoặc khí
huyết xung đột nhau gây nên Đau lưng

Phá
cố chỉ tẩm rượu sao 480g, Đỗ trọng bỏ vỏ, xắt lát, sao nước
gừng, 480g, Hồ đào nhục (bỏ vỏ) 20 trái, tán bột. Lấy tỏi
giã nát, lấy 30g trộn làm viên, to bằng hạt ngô đồng, uống
mỗi 20 viên với rượu nóng, lúc đói. Phụ nữ không uống được
rượu thì uống với giấm nhạt. Uống như thế khỏe mạnh gân cốt,
thông huyết mạch, đen râu tóc, đẹp nhan sắc.

 Trị dương
vật không dịu xuống được, tính khí tự chảy:

Phá cố
chỉ, Phỉ tử mỗi thứ 30g, tán bột, mỗi lần lấy 9g,sắc với 2
chén nước còn lại 6 phân, ngày uống 3 lần cho đến khi khỏi.

Trị tiêu
chảy do Tỳ Thận suy hư:

 Phá cố chỉ (sao) 240g, Nhục đậu khấu
sống 120g,tán bột. Táo (loại thịt dầy) giã nhuyễn, trộn
các thuốc bột trên, làm thành viên to bằng hạt ngô đồng, mỗi
lần uống 50-70 viên lúc đói với nước cơm.

 Trị đau
lưng do chấn thương, ứ huyết, ngưng trệ:

Phá cố chỉ (sao),
Lạt quế, lượng bằng nhau, tán bột, mỗilần uống 6g với rượu.

 Trị dương
khí suy tuyệt:

Phá cố chỉ 300g, bỏ vỏ, rửa sơ qua, phơi nắng,
tẩm rượu chưng rồi lại phơi nắng, rồi giã, rây nhỏ. Hồ đào
nhục 600g, ngâm qua với nước sôi,bóc vỏ đi, nghiền nhỏ như
bùn, lấy mật tốt làm như kẹo mạch nha, cất trong bình sứ, cứ
mỗi sáng, lấy rượu nóng 2 chén trộn với 10 muỗng thuốc bột
để uống, xong ăn sáng để đè thuốc (nếu không dùng rượu thì
dùng nước nóng thay cũng được). Dùng lâu thì sống lâu khoẻ
mạnh, ích khí, thông minh, nhớ dai, sáng mắt, mạnh gân cốt.
Kiêng kỵ các thứ Vân đài, thịt dê.

 Trị có
thai Đau lưng:

Phá cố chỉ 60g, sao, tán bột. Trước hết, nhai
Hồ đào nhục nửa trái lúc đói với rượu nóng và 6g Phá cố chỉ.

 Định tâm
bổ thận:

Phá cố chỉ sao 60g, Bạch phục linh 30g, tán bột.
Một dược 15g, lấy rượu ngâm đổ đầy 1 lóng ngón tay, nấu
chảy, hòa với bột làm viên to bằng hạt ngô đồng, mỗi lần
uống 30 viên với nước sôi.

 Trị tiêu
chảy, tiêu lỏng, Kiết lỵ mãn tính:

Phá cố chỉ (sao) 30g. Anh
túc xác (nướng kỹ) 120g, tán bột, luyện mật ong làm viên, to
bằng hạt Nhãn. Mỗi lần uống 1 viên với nước gừng và Táo.

 Trị đau
răng lâu ngày do thận hư:

Bổ cốt chỉ 60g, Thanh diêm 15g,
sao, tán bột, bôi vào.

 Trị sâu
răng, răng đau buốt lên đầu:

Bổ cốtchỉ (sao) 15g, Nhũ
hương 7,5g, tán bột, bôi vào hoặc làm viên nhét vào chỗ răng
đau hàng ngày.

 Trị đái
dầm, Di tinh, liệt dương:

Bổ cốt chỉ, Thỏ ty tử, Hồ đào nhục
mỗi thứ 9g, Trầm hương 1,5g, trộn với mật làm viên, mỗi lần
uống 9g,ngày 3 lần với nước muối.

 Trị đái
dầm, Di tinh, liệt dương:

Bổ cốt chỉ 30g, tán bột, mỗi lần
uống 6g, ngày 2 lần với nước.

 Trị bạch
điến phong:

Bổ cốt chỉ 30g, cho vào 10ml cồn 750C, ngâm
trong 7 ngày, bôi vào chỗ đau, ngày 1 lần.

 Trị liệt
dương, tiểu nhiều, đái dầm:

Bổ cốt chỉ, Thỏ ty tử, Bồ đào
nhục, mỗi thứ 12g, ngày 2 lần với nước muối nhạt.

 Trị đái
dầm:

Bổ cốt chỉ, tán bột, mỗi lần uống 8g, ngày 2 lần.

 Trị tiểu
nhiều:

Bổ cốt chỉ (ngâm rượu sao) 100g, Tiểu hồi (sao) 100g,
tán nhỏ, trộn đều, làm thành viên, mỗi tối dùng nước ấm
uống. 3 đến 9 tuổi: 1g~3g; 10-12 tuổi 2g-5g. Trị 6 ca đều
khỏi.

 Trị bạch
đới, hói tóc:

Bổ cốt chỉ 40g, ngâm với 100ml cồn 75%. 5-7
ngày bôi lên vùng bệnh và chích bắp dịch tiêm Bổ cốt chỉ
ngày 1 lần 5ml. Kết hợp chiếu tia tử ngoại trị bạch điến 49
ca. Tỉ lệ có kết quả 75.5%. Đối với hói tóc, chỉ dùng tiêm
và chiếu tia tử ngoại, trị 45 ca có kết quả 84.4% .

 Trị tử
cung xuất huyết:

Bổ cốt chỉ và Xích thạch chi, lượng bằng
nhau, chế thành viên cầm máu. Trị 326 ca, có kết quả trên
90o/o .

 Trị bạch
cầu giảm:

Dùng bột thuốc Bổ cốt chỉ luyện với mật làm hoàn,
mỗi hoàn nặng 6g. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 1-3 hoàn hoặc 3g
bột. Một liệu trình 4 tuần. Trị 19 ca, 14 ca khỏi, 4 ca tiến
bộ .

Tham khảo:

. Đàn ông
Đau lưng mỏi gối, không làm được việc gì, dưới bìu dái lở
chảy nước, dùng Bổ cốt chỉ nó trục được khí lạnh đi, chữa
được chứng tê lạnh, tiểu nhiều lần, bụng đau vì lạnh.

. Bổ cốt chỉ
vị cay, khí ấm, không độc, đó là vị thuốc ‘Dương trung chí
âm’ xuống nhiều mà lên ít, nó nhập vào kinh Tâm bào lạc, Tỳ,
Mệnh môn, nó làm ấm cho thủy tạng, trong âm sinh ra dương,
đó là vị thuốc chủ yếu để tráng hỏa mà ích cho thổ, trị được
chứng ngũ thương thất lao, vì những bệnh này mới bắt đầu ở
tỳ và thận, là 2 kinh đã hư mà sinh ra, phải dùng nó để làm
ấm thủy tạng lại, bổ hỏa để sinh được thổ khí thì các khí
chân dương đủ sức bổ để phát lên mới tiêu được cơm nước, xay
lọc được thức ăn thành chất bổ để hóa huyết là những chất
tinh túy từ Tỳ đưa lên Phế để nuôi ngũ tạng, nếu thất tình
làm hại thì sinh ra bởi phong hay lạnh, do chỗ dương khí suy
thì phong hàn thừa cơ đó bám vào làm gân xương đau nhức.
Thận có hư hàn thì tinh mới chảy ra, vì thận chủ về tàng
tinh nhưng tủy lại là gốc của tinh, nếu khí chân dương không
được kiên cố thì những chứng trên sẽ biểu hiện ngay, nên
phải làm cho nó bền vững tại gốc thì dương khí nó sẽ sinh ra
ngay, tất nhiên những chứng kể trên phải lui hết. Đànông lấy
tinh làm chủ, đàn bà lấy huyết làm chủ. Người đàn bà huyết
xấu khí hư thì cũng như người đàn ông suy thận hàn, rồi sinh
ra những bệnh khí hàn làm huyết giảm đi. Đàn ông thận lạnh
thì tinh khí tự chảy, những vị ấm mà cay thì hay tán bởi hỏa
hay tiêu tan các vật nên nó hay trụy thai.

. Bổ cốt chỉ
trị được chứng thận tiết, thông được Mệnh môn, ấm được đơn
điền, thu liễm tinh thần. Bổ cốt chỉ vị cay đắng, khí ấm,
nhập kinh Tỳ, Thận, Đại trường, làm ấm thận, ôn Tỳ, tiêu hóa
được cơm nước, trị được Đau lưng, chân lạnh mỏi, tiêu chảy
do thận suy, làm an thai, di mộng tinh, đái dầm, liệt dương,
bìu đái lở ẩm ướt, đau nhức các khớp xương. Bổ cốt làm ấm
được cả Thủy lẫn Thổ, tiêu hóa được thức ăn rồi đưa chất bổ
lên Can Tỳ, thu liễm được chứng hoạt tinh, tiết tả, Di tinh,
đới hạ. Những sách khác đều ca tụng nó là vị thuốc làm sống
lâu, tăng tuổi tho.ïTuy không hoàn toàn tin tưởng nhưng đó
cũng là vị thuộc đáng kể vậy.

. Bổ cốt chỉ
là vị thuốc cay đắng mà lại ấm, màu đen. Các sách đều ghi
rằng nó có tác dụng thu liễm thần minh, làm cho hỏa trong
tâm bảo lạc vớitướng hỏa trong mệnhmôn tương hòa với
nhau nhờ thế mà Nguyên dương càng được bền vững kiên cố,
xương tủy đầy đủ, đó chính là có ý lợi dụng những cái khí vị
của nó ấm và đắng. Lại nữa nó có tính sáp rít là để trị
những chỗ thoát đi, những chứng ngũ lao thất thương, vì hỏa
suy sinh ra chứng Đau lưng, chân lạnh vì thận lạnh thì tinh
tự chảy, thận hư thì tiêu chảy, đàn bà thận hư thì hay sinh
non, dùng Bổ cốt chỉ rất hay. Nếu chứng không rõ, hoặc vì
khí hãm khí hưđến nỗi trụy thai thì do thủy suy hỏa thắng,
thấy tinh khí chảy ra rồi, hoặc tiêu chảy quá mà lầm dùng Bổ
cốt chỉ để cầm lại tức là giết người không dao, còn thảm hại
hơn là gươm giáo sắc bén vậy.

 Phụ tử làm
mạnh dương nhưng tính của nó chạy, ôn dươngkhí trong và
ngoài toàn thân. Bổ cốt chỉ làm mạnh dương nhưng lại giữ
lại, ôn dương khí ở vùng hạ tiêu.

 Là yếu
dược trị ngũ canh tả do Tỳ Thận dương hư.

Nơi mua bán vị thuốc Phá cố chỉ đạt chất lượng ở đâu?

Trước thực trạng thuốc đông dược kém chất lượng, nguồn gốc không rõ ràng,… xuất hiện tràn lan trên thị trường, làm ảnh hưởng tới hiệu quả điều trị cũng như ảnh hưởng tới sức khỏe của bệnh nhân. Việc lựa chọn những địa chỉ uy tín để mua thuốc đông dược là rất quan trọng và cần thiết. Vậy khách hàng có thể mua vị thuốc Phá cố chỉ ở đâu?

Phá cố chỉ là vị thuốc nam quý, được sử dụng rộng rãi trong YHCT. Hiện tại hầu hết các cửa hàng thuốc đông dược, phòng khám đông y, phòng chẩn trị YHCT… đều có bán vị thuốc này. Tuy nhiên người mua nên chọn những địa chỉ có uy tín, đảm bảo chất lượng, có giấy phép hoạt động để mua được vị thuốc đạt chất lượng.

Với mong muốn bệnh nhân được sử dụng những loại dược liệu đúng, chất lượng tốt, Nhà thuốc Đông y An Nhiên Đường không chỉ là đia chỉ khám chữa bệnh tin cậy, uy tín chất lượng mà còn cung cấp cho khách hàng những vị thuốc đông y (thuốc nam, thuốc bắc) đúng, chuẩn, đạt chất lượng cao.

Các vị thuốc có trong tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam đều được nghành y tế kiểm nghiệm đạt chất lượng tiêu chuẩn.

Vị thuốc Phá cố chỉ được bán tại Phòng khám là thuốc đã được bào chế theo Tiêu chuẩn NHT.

Giá bán vị thuốc Phá cố chỉ tại Nhà thuốc Đông y An Nhiên Đường: 135.000vnd/1kg

Tùy theo thời điểm giá bán có thể thay đổi.

+ Khách hàng có thể mua trực tiếp tại địa chỉ phòng khám:

Văn Quán, Hà Đông, Hà Nội

Tag: cay pha co chi, vi thuoc pha co chi, cong dung pha co chi, Hinh anh cay pha co chi, Tac dung pha co chi, Thuoc nam

Annhienduong.com Tổng hợp

*************************

Con rươi, tác dụng chữa bệnh của Con rươi

Con rươi

Tên khác:

Tên dân gian: Con
rươi còn
gọi là Paloto, Rông đất

Tên khoa
học
: Eunice viridis

Họ khoa học: Thuộc họ
Rươi Nereidae

Con rươi

(Mô tả, hình ảnh con rươi, phân bố, thu bắt, tác dụng
dược lý, thành phần hóa học…)

Hình ảnh con rươi, rươiMô tả
con rươi

Rươi được biết đến không chỉ là một thực phẩm ngon, bổ dưỡng
mà còn là một vị thuốc quý.
Rươi là
một loại giun sống dưới nước bơi dễ dàng trong nước.
Rươi trưởng thành dài 60-70mm, bề ngang chừng 5-6mm.
Thân hình dẹp với hơn 50 đốt màu hồng, xanh nhạt, nâu
nhạt hay màu trắng. Đầu rươi tương đối nhỏ, nhưng mắt
lại to. Phần trước của rươi to hơn phần sau trong khi
các dốt lại ngắn hơn. Cơ thể rươi rất đối xứng, lưng
và bụng phân biệt rõ ràng. Rươi sống quanh năm dưới
đất, trong lớp bùn đáy sông hay trong các ruộng nước.
Môi trường sống thích hợp cho rươi là nước phải thật
nhạt. Khi đến thời kỳ sinh sản rươi chui ra khỏi hang,
phần sau chứa đầy tế bào sinh dục đứt lìa khỏi
phần trước và trôi nhanh lên mặt nước. Chúng bôi tung
tăng đây đó, phóng ra vô số trứng hay tinh trùng làm
cho mặt nước có màu trắng đục như sữa. Trứng tinh
trùng kết hợp với nhau thành một thế hệ mới. Trong
khi đó phần đầu của rươi vẫn sống dưới hang đào sâu
đến 30-40cm để tái tạo phần đuôi. Phải đến 1 năm rươi
mơi trở lại tình trạng cũ. Lúc đó phần sau của vô
vàn con rươi, đứt ra, trôi lên mặt nước khoảng tử 10
giờ đêm đến 4 giờ sáng để hoàn thành chức năng sinh
sản gọi là “hiện tượng Swarming”. Đó chính là lúc
vớt rươi vì chúng nhiều vô kể nếu không rươi sẽ chết
và chìm xuống đáy sông.

Có khoảng 500 loài rươi, được chia thành 42 chi, chủ yếu là
các loài sống ở biển và nước lợ. Tên gọi phổ biến của nó
theo tiếng Việt là Rươi, hay theo dân gian thì người ta còn
gọi nó là rồng đất.

Phân
bố và thu hoạch rươi

Ở nước ta rươi thường sống ở các vùng ven sông hoặc các cánh đồng
ngập nước do nước sông tràn vào thuộc các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ như Hải
Dương, Hải Phòng, Thái Bình. Rươi thích hợp ở nhiệt độ khá lạnh, khoảng
tháng 9 tháng 10 âm lịch, cho nên khi vớt rươi đem bán người ta phải bảo
quản rươi trong nước đá để tan.

Thành phần hóa học

Theo phân tích của các nhà khoa học, cứ 100g rươi có chứa 81,9g nước,
12,4g protit, 4,4g lipit, 1,3g tro, cung cấp cho cơ thể 92 calo.

Để dễ hiểu hơn có thể so sánh thành phần dinh dưỡng của rươi với
thịt bê. Trong thịt bê nạc với khối lượng tương tự có chứa 78,2g nước,
20g protit, 0,5g lipit, 1,3g tro cung cấp được 87calo.

Như vậy, thậm chí rươi còn chứa nhiều chất dinh dưỡng hơn thịt bê
nếu tính theo lượng bằng nhau.

Ngoài ra, trong rươi còn có chứa nhiều loại chất khoáng khác như
canxi (66mg%), photpho (57mg%), sắt (1,8mg%).

Vị thuốc con rươi

(Công dụng, liều dùng, quy kinh, tính vị…)

Tác dụng

Dược tính của món rươi phần nhiều đến từ vỏ quýt. Vỏ quýt được dùng
rất phổ biến trong Đông y với tên gọi Trần bì. Cũng theo Đông y, vỏ quýt
có vị cay, đắng, the, mùi thơm, tính ấm. Tác dụng điều khí, hóa đờm,
tiêu chảy, kém ăn, khó tiêu…

Tham khảo

Những ai không nên ăn rươi

Người
có 

bệnh hen tránh ăn rươi có thể vì rươu có
chất gây nên cơn hen.

Đạm trong rươi rất dễ gây dị ứng, bởi vậy những người có cơ địa dị ứng
hoặc đã từng dị ứng khi ăn hải sản không nên ăn rươi.

Những người đã từng một lần bị ngộ độc rươi, không bao giờ nên ăn tiếp
món này lần hai. Vì ngộ độc lần sau bao giờ cũng nặng và nguy hiểm hơn
lần trước, rất nguy hiểm.

Cũng vì rươi giàu đạm, nên bà bầu không nên đụng tới món này vì có thể
gây khó tiêu, sình bụng, không có lợi cho tiêu hóa. Ảnh hưởng không tốt
đến em bé.

Với trẻ em, hệ tiêu hóa còn non nớt, chưa hoàn chỉnh, cũng tránh cho bé
ăn một lúc nhiều rươi. Nếu muốn, chỉ nên cho bé ăn chút một để thử phản
ứng của cơ thể bé với món ăn vừa ngon vừa nguy hiểm này.

Lưu ý khi ăn rươi

Khi ăn rươi cần cẩn
thận vì rươi là loài nhuyễn thể ở dưới nước nên thường có chứa nhiều vi
khuẩn gây bệnh như Salmonella, E.coli, gây tiêu chảy, đường ruột nếu chế
biến không cẩn thận, đúng cách.

Nếu rươi chết, cơ
thể chúng rất dễ phân hủy sinh ra nhiều độc tố. Ăn phải rươi chết nguy
cơ ngộ độc rất cao, nhẹ thì đầy bụng khó tiêu, tiêu chảy cấp, nặng thì
có thể ngộ độc gây nguy hiểm tới tính mạng.

Hơn nữa, do rươi
giàu đạm nhưng chất đạm của rươi không giống với chất đạm của các thực
phẩm khác như bò, lợn, gà nên có thể gây dị ứng cho người ăn. Nếu bạn đã
từng bị dị ứng khi ăn rươi 1 lần rồi thì không nên thử lại lần thứ 2.

Cách chọn rươi ngon?

Rươi còn tươi ngon
là những con lớn, thân mập mạp, màu đỏ, còn ngọ nguậy. Kinh nghiệm mua
rươi tươi, mới là chỉ lấy những con còn khỏe ở phía trên, vì đa số rươi
phía dưới thường bị đè vỡ bụng, có mùi tanh.

Rươi sắp chết là
những con nhỏ, gầy, có màu xanh, bò yếu hoặc lâu lâu mới ngọ nguậy. Chú
ý, khi rửa rươi chỉ cần thả rươi vào chậu nước, dùng tay đẩy nhẹ để rươi
khỏi bị vỡ bụng. Rửa chừng ba lần cho sạch bớt bùn, rác.

Rươi sạch vớt ra để
ráo nước, chuẩn bị “làm lông” để khi ăn không bị ngứa rát cổ. Dùng nước
nóng chừng 40 độ C, thả rươi vào, dùng đũa khuấy nhẹ. Khi thấy bùn, chân
và lông rươi rụng, nổi lên thì vớt rươi ra và chế biến món ăn.

Tag: con ruoi, vi thuoc
con ruoi, cong dung con ruoi, Hinh anh con ruoi, Tac dung ruoi, Thuoc nam

Xem thêm:
Thực phẩm nên kiêng khi bị hen phế quản ???

Nơi mua bán vị thuốc Con rươi đạt chất lượng ở đâu?

Trước thực trạng thuốc đông dược kém chất lượng, nguồn gốc không rõ ràng,… xuất hiện tràn lan trên thị trường, làm ảnh hưởng tới hiệu quả điều trị cũng như ảnh hưởng tới sức khỏe của bệnh nhân. Việc lựa chọn những địa chỉ uy tín để mua thuốc đông dược là rất quan trọng và cần thiết. Vậy khách hàng có thể mua vị thuốc Con rươi ở đâu?

Con rươi là vị thuốc nam quý, được sử dụng rộng rãi trong YHCT. Hiện tại hầu hết các cửa hàng thuốc đông dược, phòng khám đông y, phòng chẩn trị YHCT… đều có bán vị thuốc này. Tuy nhiên người mua nên chọn những địa chỉ có uy tín, đảm bảo chất lượng, có giấy phép hoạt động để mua được vị thuốc đạt chất lượng.

Với mong muốn bệnh nhân được sử dụng những loại dược liệu đúng, chất lượng tốt, Nhà thuốc Đông y An Nhiên Đường không chỉ là đia chỉ khám chữa bệnh tin cậy, uy tín chất lượng mà còn cung cấp cho khách hàng những vị thuốc đông y (thuốc nam, thuốc bắc) đúng, chuẩn, đạt chất lượng cao.

Các vị thuốc có trong tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam đều được nghành y tế kiểm nghiệm đạt chất lượng tiêu chuẩn.

Vị thuốc Con rươi được bán tại Phòng khám là thuốc đã được bào chế theo Tiêu chuẩn NHT.

Giá bán vị thuốc Con rươi tại Nhà thuốc Đông y An Nhiên Đường: Gọi 035.2345.848 để biết chi tiết

Tùy theo thời điểm giá bán có thể thay đổi.

+ Khách hàng có thể mua trực tiếp tại địa chỉ phòng khám:

Văn Quán, Hà Đông, Hà Nội

Tag: cay con ruoi, vi thuoc con ruoi, cong dung con ruoi, Hinh anh cay con ruoi, Tac dung con ruoi, Thuoc nam

Annhienduong.com Tổng hợp

*************************

Đơn trắng, tác dụng chữa bệnh của Đơn trắng

Đơn trắng

Tên khác

Tên thường gọi: Đơn trắng còn gọi là Lấu, Bời lời, Bồ chát, Cây men sứa.

Tên khoa học: Tên khoa học Psychotria reevesii Wall.

Họ khoa học: Thuộc họ Cà
phê Rubiaceae.

Cây Đơn trắng

(Mô tả, hình ảnh cây Đơn trắng, phân bố, thu hái, chế biến, thành phần hóa học, tác dụng dược lý…)

Mô tả

Hình ảnh cây Đơn trắngCây nhỏ hay
nhỡ có thể cao tư 1-9m. Thân nhẵn, lá thuôn dài, mọc đối,
phía cuống hẹp và nhọn lại, phiến lá dài 8-20cm, rộng
2-7.5cm, mặt trên xanh hay xanh sẫm, hai mặt mặt dưới màu
nhạt hơn. Hoa màu trắng nhạt, mọc thành sim ở đầu cành. Quả
hình cầu với đầu tồn tại, đường kính 5-7mm, chín có màu đỏ,
với hai hạch, mặt hai hạch tiếp giáp với nhau phẳng, 5 sống
và rãnh trên lưng hạch. Mỗi hạch chứa một hạt màu đen. Mùa
hoa quả tháng 5-7.

Phân
bố

Cây mọc
hoang dại ở những tán rừng thưa vùng trung du, vùng núi.

Thu hái và chế biến

Người ta
dùng rễ và lá thu hai quanh năm, rễ đào về rửa sạch, thái
mỏng phơi hay sấy khô. Lá dùng tươi hoặc phơi hay sấy khô.

Thành
phần hoá học

Chưa thấy
tài liệu nghiên cứu. Sơ bộ thấy rễ và lá đều cho những phản
ứng của ancaloit.

Vị thuốc Đơn trắng

(Công dụng, liều dùng, quy kinh, tính vị…)

Tính vị:

Đơn trắng có vị nhạt, chát, tính bình.

Tác dụng:

Có tác dụng mát huyết, an thai, bổ gân xương, cầm ỉa chảy và lỵ.

Liều dùng:

Ngày dùng
10-20g rễ dưới dạng thuốc sắc hay giã nát, đắp. Lá cũng cùng
một công dụng. Dùng ngoài không kể liều lượng.

Ứng dụng lâm sàng chữa bệnh của Đơn trắng.

Chữa rối loạn tiêu hóa do ăn thức ăn sống lạnh:

Rễ men sứa 15g, sắc với 250ml nước còn 100ml nước, uống làm một lần trong ngày. Dùng 3 – 5 ngày.

Phụ nữ băng huyết sau sinh, bạch đới:

Lá men sứa để tươi 20g, lá tiết dê 16g, lá huyết dụ 16g. Tất cả rửa sạch, để ráo nước giã nát, thêm nước, gạn uống. Ngày uống 2 lần, dùng liền 3 ngày.

Chữa tiêu chảy (do lạnh bụng):

Lá men sứa  20g, lá sim 30g , sắc với 350ml nước còn 150ml nước, uống làm một lần trong ngày. Dùng 3 – 5 ngày.

Chữa tiểu sẻn đỏ do nóng:

Lá men sứa 16g, rễ cây ráng 12g, lá huyết dụ 12g, lá tiết dê 10g, ngũ bội tử 4g. Tất cả dùng tươi, rửa sạch, giã nát, thêm nước gạn uống, chia 2 lần uống trong ngày.

Hỗ trợ cắt cơn sốt rét:

Lá men sứa  40g, lá na 40g, vỏ cây gòn 30g, lá thường sơn 20g. Tất cả thái nhỏ, phơi khô, sao vàng, hạ thổ. Sắc với 550ml nước còn 200ml nước, chia 3 lần trong ngày.

Giảm đau nhức do sâu răng:

Lá men sứa  50g sắc với 350ml nước còn 100ml nước, chia 3 uống lần uống trong ngày.

Tham khảo

Công
dụng:

Rễ dùng làm
thuốc chữa Đau răng, đau viêm tai. Còn dùng làm thuốc chữa
băng huyết, đái ra máu, đắp vết thương, vết loét, chữa lị,
rắn cắn.

Chỉ định và phối hợp:

Được dùng chữa thận suy, lưng xương đau mỏi, yếu gân, điều hoà kinh nguyệt, lại trị bạch đới, lỵ. Cũng dùng làm cho mát mẻ bào thai và giải nóng ho. Người ta cũng thường nấu nước cho phụ nữ sinh đẻ uống.

Ngoài ra, một số địa phương bà con thường lấy lá men sứa để chữa mẩn ngứa, vết thương chảy máu nhanh lành miệng. Cách dùng là lấy lá men sứa thái nhỏ, rửa sạch sắc đặc tắm hoặc rửa vết thương ngày nhiều lần.


Chú thích:

Một loại lấu
Psychotria sp. được dùng ở Sơn La để chữa lỵ có kết quả với
tên địa phương là lé mọ. Nên chú ýnghiên cứu tìm nguồn
emetin ở những loại Psychotria sẵn mọc ở nước ta.

Nơi mua bán vị thuốc Đơn trắng đạt chất lượng ở đâu?

Trước thực trạng thuốc đông dược kém chất lượng, nguồn gốc không rõ ràng,… xuất hiện tràn lan trên thị trường, làm ảnh hưởng tới hiệu quả điều trị cũng như ảnh hưởng tới sức khỏe của bệnh nhân. Việc lựa chọn những địa chỉ uy tín để mua thuốc đông dược là rất quan trọng và cần thiết. Vậy khách hàng có thể mua vị thuốc Đơn trắng ở đâu?

Đơn trắng là vị thuốc nam quý, được sử dụng rộng rãi trong YHCT. Hiện tại hầu hết các cửa hàng thuốc đông dược, phòng khám đông y, phòng chẩn trị YHCT… đều có bán vị thuốc này. Tuy nhiên người mua nên chọn những địa chỉ có uy tín, đảm bảo chất lượng, có giấy phép hoạt động để mua được vị thuốc đạt chất lượng.

Với mong muốn bệnh nhân được sử dụng những loại dược liệu đúng, chất lượng tốt, Nhà thuốc Đông y An Nhiên Đường không chỉ là đia chỉ khám chữa bệnh tin cậy, uy tín chất lượng mà còn cung cấp cho khách hàng những vị thuốc đông y (thuốc nam, thuốc bắc) đúng, chuẩn, đạt chất lượng cao.

Các vị thuốc có trong tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam đều được nghành y tế kiểm nghiệm đạt chất lượng tiêu chuẩn.

Vị thuốc Đơn trắng được bán tại Phòng khám là thuốc đã được bào chế theo Tiêu chuẩn NHT.

Giá bán vị thuốc Đơn trắng tại Nhà thuốc Đông y An Nhiên Đường: Gọi 035.2345.848 để biết chi tiết

Tùy theo thời điểm giá bán có thể thay đổi.

+ Khách hàng có thể mua trực tiếp tại địa chỉ phòng khám:

Văn Quán, Hà Đông, Hà Nội

Tag: cay don trang, vi thuoc don trang, cong dung don trang, Hinh anh cay don trang, Tac dung don trang, Thuoc nam

Annhienduong.com Tổng hợp

*************************

Hậu phác, tác dụng chữa bệnh của Hậu phác

HẬU PHÁC

  • Chế độ ăn uống cho người bị đau dạ dày
  • Tôi bị đau dạ dày hơn 5 năm, nhờ uống
    thuốc này mà tôi đã khỏi
  • Tham khảo ý kiến thầy thuốc

Tên
khác:

Vị thuốc hậu phác còn gọi Xích phác, Hậu bì (Biệt Lục),
Liệt phác (Nhật
Hoa), Trùng bì (Quảng Nhã), Đạm bá (Hòa Hán Dược Khảo),
Xuyên hậu phác, Chế
quyển phác, Tử du phác, Chế xuyên phác, Chế tiểu phác, Dã phác, Tiểu xuyên phác,
Ngoa đồng phác, Thần phác, Xuyên phác ty, Tiền sơn phác
(Trung Quốc Dược Học Đại
Từ Điển).

Tên
khoa học: Magnolia offinalis Rehd. et Wils. : Magnolia
officinalis var. Biloba Rehd. et Wils, Magnolia hypoleuca Sicb. et Zucc.
Họ Mộc
Lan (Magnoliaceae).

Tiếng Trung: 厚朴

Cây Hậu phác

( Mô tả, hình ảnh cây Hậu phác, thu hái, chế biến, thành phần hoá học, tác dụng
dược lý
….)


tả:

Cây gỗ lớn, cao 6 – 15m, vỏ cây màu nâu tím,
cành non có lông, bế khổng hình tròn hoặc hình viên chùy. Lá mọc so le, nguyên,
thuôn hình trứng ngược, đầu lá h~i nhọn, dài 20 – 45cm, rộng 10 – 20cm, có mép
nguyên hoặc hơi lượn sóng, khi còn non có lông màu tro sau biến dần thành màu
trắng, trên gân lá có nhiều lông nhung, gân phụ có chừng 20 – 40 đôi. Hoa mọc ở
đầu cành, to, trắng thơm, đường kính có thể tới 15cm. Quả mọc tập trung, thuôn
hình trứng, dài độ 12cm, đường kính 6cm, trong có chứa 1 – 2 hạt.
Vỏ thân cây khô biểu hiện dạng ống hặc nửa ống,
có khi sau khi cắt người ta ép phẳng, cô dạng hình bản, dài chừng 0,3m – 0,7m,
dày 3,2 – 6,5mm, mặt ngoài biều hiện màu nâu tro hoặc mần nâu đậm, xù xì không
bằng phẳng, có đường nhăn không qui tắc, đồng thời thường có những khối ban màu
nâu đậm, mặt trong biểu hiện màu nâu tím hay đỏ nâu, tương đối phẳng, có đường
vân nhỏ, thẳng dọc. Mặt bề ngang màu nâu vàng hoặc nâu đậm, không bằng phẳng,
chất cứng, dễ gẫy dòn, mặt cắt ngang có vết dầu ở lớp giữa, còn lớp trong có xơ
gỗ, thớ sợi nhỏ. Có mùi thơm cay đặc biệt, vị cay tê, hơi đắng. (Dược Tài Học).

Địa
lý:

Mọc nơi ẩm thấp, đất tốt ở sườn núi. Có nhiều ở
Hồ Bắc, Tứ Xuyên, An Huy, Triết Giang, Vân Nam (Trung Ouốc). Cây này chưa thấy
phát hiện ở Việt Nam.

Thu
hái, sơ chế:

Hình ảnh Hậu phác búp

Thu hái vỏ cây trên 20 năm vào tiết Lập thu tới
Hạ chí, để cho nó ra mồ hôi rồi phơi trong râm cho khô, cuộn thành ống hoặc cán
cho thẳng.

Hoặc sau khi bóc vỏ, phơi nơi mát cho khô,
nhúng vào nước sôi, rồi lấy ra chất thành đống cho nước chảy hết, phơi khô, rồi
lại hấp để cho vỏ mềm, cuộn thành ống, phơi nơi mát cho khô.

Phần
dùng làm thuốc:

Vỏ thân (Cortex Magnoliae). Thứ vỏ dầy mềm, màu
nâu tía, thơm và có nhiều dầu là tốt, đặc biệt thứ có đốm sáng (Kim tinh Hậu
phác) là tốt hơn cả

Bào
chế:

Hình ảnh Hậu phác hoa

Rửa sạch nhanh, cạo bỏ vỏ thô, xắt lát mỏng 2
– 3 ly, tẩm nước sữa tô (cứ 1 cân Hậu phác thì sao với 4 lượng sữa tô), sao chín
để dùng trong hoàn tán. Nếu dùng trong thuốc thang để uống thì dùng nước cốt
gừng (cứ 1 cân Hậu phác thì sao với 8 lượng nước gừng) cho khô (Lôi Công Bào
Chích Luận).

Cạo bỏ vỏ thô, rửa qua, lấy 2 vị Gừng sống,
Tô diệp trộn vào, nấu chín rồi bỏ Gừng và Tô diệp đi, cắt phiến, phơi trong râm
cho khô để dùng (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

Bảo
quản:

Đậy kín, để nơi khô ráo, vì dễ mốc. Tránh nóng
vì dễ mất tinh dầu thơm.

Thành
phần hóa học:

Magnolol, Honokiol, Obovatol,
6’-O-Methylhonokiol, Magnaldehyde B, C, Randainal, Dipiperityl Magnonol,
Piperitylhonokiol, Bornymagnolol, Randiol, Magnatriol B (Yahara S và cộng sự,
Chem Pharm Bull, 1991, 39 (8) : 2024).

Magnocurarine, Salici Foline (Thôi Kiến
Phương, Dược Học Học Báo 1988, 23 (5) : 383).

b -Eudesmol 17,4%, Cadinol 14,6%, Guaiol
8,7%, Cymene 7,8%, 1,4-Cineol 5,6%, Caryophellen 5%, Linalool 4,6%, a -Terpineol
4,5%, Globulol 3,1%, a -Humulene 3,9%, 4-Terpineol 3,4% (Q L Pu và cộng sự,
Planta Med, 1990, 56 (1) : 129).

Tác
dụng dược lý:

. Chất Magnolol (thành phần Phenol của Hậu phác)
có tác dụng phòng ngừa loét dạ dày trên thực nghiệm, có tác dụng ức chế Histamin
gây co thắt tá tràng, ức chế dạ dày tiết dịch (Trung Dược Học).

. Thuốc sắc Hậu phác có tác dụng kích thích
ruột cô lập của chuột và chuột Hà lan. Thuốc cũng có tác dụng hưng phấn cơ trơn
khí quản (Trung Dược Học).

. Chất kiềm Hậu phác và hoa Hậu phác có tác
dụng hạ huyết áp (Trung Dược Học).

. Nước sắc thuốc có tác dụng kháng khuẩn rộng:
trên thực nghiệm in vitro, thuốc có tác dụng ức chế tụ cầu vàng, liên cầu khuẩn
phổi, liên cầu khuẩn tán huyết, tnực khuẩn lỵ ( Shigella sonnei ) và những nấm
gây bệnh thường gặp (Trung Dược Học).

Giảm đầy hơi lúc châm tê cắt tử cung: Tác gỉa
cho 36 bệnh nhân uống bột Hậu phác trước phẫu thuật, kết qủa lúc rạch phúc mạc,
đại trường không phình, một số ít hơi đầy, dùng tay đẩy nhẹ là được. So với 163
ca không cho uống Hậu phác tốt hơn rất rõ, ( Báo Cáo Của Bệnh Viện Phụ Sản Trực
Thuộc Học Viện Y Học Thượng Hải số I, Tạp Chí Tân
Y)

Vị thuốc Hậu phác

( Công dụng, Tính vị, quy kinh, liều dùng …. )

Tính
vị:

Vị đắng, tính ôn (Bản Kinh).

Vị cay, ôn, tính đại nhiệt (Bản Thảo Kinh Sơ).

Vị rất nóng, không độc (Biệt Lục).

Vị đắng, cay, tính ấm (Trung Dược Học).

Vị cay, tính ôn (Trung Dược Đại Từ Điển).

Quy
kinh:

Vào kinh Tỳ, Vị (Lôi Công Bào Chích Luận).

Vào kinh túc Thái âm Tỳ, thủ Dương minh Đại
trường, túc Dương minh Vị (Bản Thảo Kinh Sơ).

Vào kinh túc Quyết âm Can, thủ Thiếu âm Tâm (Bản
Thảo Kinh Giải).

Vào kinh Tỳ, Vị, Đại trường (Trung Dược Đại
Từ Điển).

Vào 3 kinh Tỳ Vị, Đại
trường (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách

Công
dụng:

Ôn trung, ích khí, tiêu đờm, hạ khí (Biệt Lục).

Trừ đờm ẩm, khứ kết thủy, phá súc huyết, tiêu
hóa thủy cốc, chỉ thống (Dược Tính Luận).

Ôn trung, hạ khí, táo thấp, tiêu đờm (Trung
Dược Đại Từ Điển)hậu phác còn gọi Xích phác, Hậu bì (Biệt Lục), Liệt phác (Nhật Hoa), Trùng bì (Quảng Nhã), Đạm bá (Hòa Hán Dược Khảo), Xuyên hậu phác, Chế quyển phác, Tử du phác, Chế xuyên phác, Chế tiểu phác, Dã phác, Tiểu xuyên phác, Ngoa đồng phác, Thần phác, Xuyên phác ty, Tiền sơn phác (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển)..

Tả nhiệt, tán mãn, ôn trung (Lâm Sàng Thường
Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Liều
dùng:

6 – 20g.

Ứng dụng lâm sàng của vị thuốc Hậu phác

Trị bụng đầy mà mạch đi Sác:

Hậu phác nửa cân,
Chỉ thực 5 trái, dùng 1 đấu 2 thăng nước, sắc còn 5 thăng, thêm vào 120g Đại
hoàng, lại sắc còn 3 thăng, uống nóng 1 thăng, thấy bụng sôi là tốt. Nấu uống
nước đầu mà không thấy sôi chuyển thì đừng uống tiếp (Hậu Phác Tam Vật Thang –
Kim Quỹ Yếu Lược).

Trị trường vị thực nhiệt, khí trệ, trướng mãn,
táo bón:

Hậu phác 12g, Chỉ xác 8g, Đại hoàng 12g. Sắc uống (Hậu Phác Tam Vật
Thang – Kim Quỹ Yếu Lược).

Trị thổ tả, bụng đau:

Hậu phác sao với nước
cốt gừng, tán bột. Mỗi lần uống 8g vớí nước mới múc ở giếng lên (Thánh Huệ
phương).

Trị đàm ủng, nôn khan, ngực đầy tức, ăn không
xuống:

Hậu phác 40g, sao với Sinh khương, tán bột. Mỗi lần uống 8g với nước cơm
(Thánh Huệ phương).

Trị bụng đau, bụng trướng, bụng đầy:

Hậu phác
nửa cân, Cam thảo, Đại hoàng, mỗi thứ 120g, Táo 10 trái, Chỉ thực 5 trái, Quế
60g, Sinh khương 150g, sắc với 1 đấu nước còn 4 thăng, chia làm 3 lần, uống nóng
trong ngày. Nếu có nôn mủa thì thêm Bán hạ (Thất Vật Hậu Phác Thang – Cục phương).

Trị kinh nguyệt không thông:

Hậu phác 120g,
sao, xắt lát, sắc với 3 thăng nước còn 1 thăng, chia làm 2 lần, uống lúc đói.
Không quá 3 thăng là có hiệu quả (Mai Sư phương).

Trị kiết lỵ đi ra toàn xác thức ăn, lâu ngày
không bớt:

Hậu phác 120g, Hoàng liên 120g, sắc với 3 thăng nước còn 1 thăng,
uống lúc đói (Mai Sư phương).

Đại bổ Tỳ Vị suy nhược, ôn trung, giáng khí,
hóa đàm, kích thích tiêu hóa, trị nôn mửa, tiêu chảy:

Hậu phác bỏ vỏ, Sinh
khương để luôn cả vỏ, xắt lát, sắc với 5 thăng nước cho cạn. Bỏ gừng đi, sấy khô
Hậu phác, rồi lấy 160g Can khương, 80g Cam thảo, nước 5 thăng, sắc chung với Hậu
phác cho cạn. Bỏ Cam thảo đi, sấy khô gừng và Hậu phác, tán bột. Dùng Táo nhục,
Sinh khương đều sắc chín, bỏ gừng đi, lấy Táo quết nhuyễn, trộn thuốc bột làm
thành viên, to bằng hạt ngô đồng lớn. Mỗi lần uống 50 viên với nước cơm(Hậu Phác
Tiễn Hoàn – Bách Nhất Tuyển phương).

Trị khí trướng, ngực đầy, ăn kém, lúc nóng
lúc lạnh, bệnh lâu ngày không bớt:

Hậu phác sao với nước cốt gừng, tán bột. Mỗi
lần uống 8g với nước gạo lâu năm, ngày uống 3 lần (Đẩu Môn phương).

Trị bụng đầy, tiêu chảy:

Hậu phác, Can khương,
2 vị bằng nhau, tán bột. Trộn với mật làm viên, to bằng hạt ngô đồng lớn. Mỗi
lần uống 50 viên với nước cơm (Bảo Thi phương).

Trị trẻ nhỏ bị thổ tả, Vị hư kèm theo động
kinh kéo đàm:

Hậu phác 40g, sắc với nước Bán hạ 7 lần, ngâm với nước cốt gừng
nửa ngày, phơi khô. Mỗi lần lấy 4g ngâm với 3 thăng nước vo gạo một buổí, cho
đến khi khô thì thôi, nếu chưa khô thì sao cho khô, bỏ Hậu phác đi, chỉ dùng Bán
hạ mà thôi. Mỗi lần uống 2g hoặc 4g với nước sắc Bạc hà (Tử Phác Tán phương).

Trị đại trường khô táo:

Hậu phác sống (tán
bột), ruột heo nấu nhừ, trộn thuốc bột làm viên, to bằng hạt ngô đồng lớn. Mỗi
lần uống 30 viên với nước gừng (Thập Tiện Lương phương).

Trị Tâm Tỳ không điều hòa, đi tiểu ra chất
đục:

Hậu phác sao v6i nước cốt gừng 40g, Bạch phục linh 4g, Rượu l chén, sắc
uống nóng (Kinh Nghiệm phương).

Trị bụng đầy do thương thực:

Hậu phác, Trần
bì, Chỉ xác, Mạch nha, Sơn tra, Thào qủa, Sa nhân. Sao khô uống với nước (Trung
Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

Trị tiêu chảy do thấp nhiệt:

Hậu phác, Quất
bì, Hoàng liên, Cam thảo, Thương truật, Bạch truật, Cát căn. Sắc uống (Trung
Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

Trị bạch đới giai đoạn đầu:

Hậu phác, Binh
lang, Mộc hương, Hoàng liên, Hoạt thạch, Quất bì, Cam thảo, Bạch thược (Trung
Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

Trị bụng đầy:

Hậu phác, Bạch truật, Nhân sâm,
Bạch thược, Phục linh sắc uống (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

Trị nôn mửa do Vị hàn:

Hậu phác, Sinh khương,
Quất bì, Hoắc hương, Sa nhân, Bán hạ (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

Trị tích khối lạnh cứng lâu năm trong người:

Hậu phác, Tam lăng, Bồng nga truật, Binh lang, Nbân sâm, Thanh bì (Trung Quốc
Dược Học Đại Từ Điển).

Trị ngực đầy do khí, kích thích cho ăn nhíều:

Hậu phác, Thương truật, Quất bì, Cam thảo, làm thuốc tán uống (Trung Quốc Dược
Học Đại Từ Điển).

Trị kinh nguyệt không thông:

Hậu phác 120g,
sao, xắt lát, thêm Đào nhân, Hồng hoa, sắc với 3 thăng nước, còn 1 thăng, chia
làm 2 lần, uống lúc đói (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

Trị Tỳ Vi hư hàn, khí trệ, trướng mãn:

Hậu
phác 8g, Sinh khương 8g, Bán hạ 12g, Cam thảo 8g, Đảng sâm 12g. Sắc uống (Hậu
Phác Sinh Khương Bán Hạ Cam Thảo Nhân Sâm Thang – Lâm Sàng Thường Dụng Trung
Dược Thủ Sách).

Trị bụng đau do lạnh, bụng đầy tức không ăn
được:

Hậu phác 12g, Trần bì 8g, Can khương 4g, Thảo đậu khấu 6g, Xích phục linh
12g, Mộc hương 4g, Cam thảo 4g, Sinh khương, Đại táo, mỗi thứ 12g. Sắc uống (Hậu
Phác Ôn Trung Thang – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Trị thấp đàm ủng phế, ngực đầy tức, ho suyễn,
phế quản viêm mạn tính:

Hậu phác 8g, Ma hoàng 4g, Thạch cao (sống) 20g, Hạnh
nhân 12g, Bán hạ 12g, Ngũ vị tử 4g, Can khương 3,2g, Tế tân 2g, Tiểu mạch 16g.
Sắc uống (Hậu Phác Ma Hoàng Thang).

Trị sợ gió, tự ra mồ hôi, ngực đầy, ho, suyễn:

Quế chi, Bạch thược, Sinh khương, Đại táo, Hậu phác, Hạnh nhân, mỗi thứ 12g, Cam
thảo 4g, Sắc uống (Quế Chi Gia Hậu Phác Hạnh Tử Thang – Lâm Sàng Thường Dụng
Trung Dược Thủ Sách).

Tham
khảo:

Kiêng
kỵ:

Tỳ Vi hư nhược, chân nguyên bất túc: cấm dùng.
Phụ nữ có thai uống vào tổn thương nhiều tới thai khí (Trung Quốc Dược Học Đại
Từ Điển).

Ghét Trạch tả, Tiêu thạch, Hàn thủy thạch (Bản
Thảo Kinh Sơ).

Kỵ đậu, ăn đậu vào thì khí động (Dược Tính
Luận).

Can Khương làm sứ cho Hậu phác (Bản Thảo Kinh
Tập Chú).

Tác dụng từ các tài liệu khác

Tất cả các chứng ẩm thực, đình tích, khí
thủng, bạo trướng cùng lãnh khí, nghịch khí, lãnh khí tích tụ lâu ngày, nhập vào
bụng, ruột sôi kêu, đàm ẩm, nôn ra đờm rãi, Vị lạnh, nôn mửa, bụng đau, têu chảy.
Người Tỳ Vị thực mà cảm phong hàn, người khí thực mà uống lầm Sâm, Kỳ gây nên
suyễn trướng, thì Hậu phác là thuốc cần dùng. Thuốc tính chuyên tiêu đạo, tản mà
không thu , không có tác dụng bổ ích (Bản Thảo Kinh Sơ).

Cùng dùng với Chỉ thực, Đại hoàng thì có tác
dụng tả thực mãn, cho nên bài ‘Đại Sài Hồ Thang’ có Hậu phác. Dùng với Thương
truật, Trần bì thì có tác dụng trừ thấp mãn, vì vậy, trong bài ‘Bình Vị Tán’ có
Hậu phác cùng dùng với Nhân sâm, Bạch truật trị hư mãn. Cùng dùng với Bán hạ,
Đởm tinh có tác dụng táo thấp, thanh đàm. Cùng dùng với Bạch truật, Cam thảo có
tác dụng hòa trung, kiện vị. Dùng với Chỉ xác, La bạc tử có tác dụng hạ khí,
thông trường. Dùng với Tía tô, Tiền hồ có tác dụng phát tán phong hàn. Cùng dùng
với Sơn tra, Chỉ thực có tác dụng sơ khí, tiêu thực. Cùng với Ngô thù, Nhục quế
có tác dụng hành thấp, táo âm. Đối với chứng thực, thuốc có tác dụng lý khí,
hành khí. Nhưng chứng khí thịnh, thuốc dùng không phảí là không xem xét, mà đối
với chứng hư nên ít dùng (Bản Thảo Hối Ngôn).

Hậu phác trị khí lạnh tích tụ lâu ngày, bụng
sôi dạng hư, thức ăn cũ không tiêu, làm tan nước đình đọng, phá huyết ứ, tiêu
cơm nước, trị nôn ra nước chua, làm ấm vị khí, trị đau do hàn, trị người bệnh hư
yếu mà nước tiểu trắng (Dược Tính Bản Thảo).

Hậu phác có tác dụng kiện tỳ, trị ăn vào nôn
ra, chứng hoắc loạn, chuột rút, khí lạnh nóng, tả bàng quang và tất cả bệnh khí
ở ngũ tạng, bệnh thai tiền sản hậu của đàn bà, vùng bụng không yên, diệt trùng
giun trong ruột, làm sáng mắt, thính tai, điều hòa các khớp (Nhật Hoa Chư Gia
Bản Thảo).

Hậu phác vị đắng, tính ấm, thể chất nặng mà
giáng xuống, là thuốc của Tỳ Vị. Ôn trung, hạ khí là công năng gốc của nó, kiện
tỳ, tiêu đầy trướng, tiêu đờm, cầm nôn mửa, tiêu thực, giảm đau, bồi thành ruột,
lợi tiểu, đều do tác dụng ôn trung vậy, lại có khả năng tả thực ở Vị, do đó đạt
hiệu quả trong khi dùng trong bài ‘Bình Vị Tán’, chứng đầy do hàn rất cần thiết,
là theo ý làm tan khối kết của nó vậy. Nhưng vì hành khí quá mạnh, nên chứng hư
không nên dùng quá nhiều (Bản Thảo Đồ Giải).

Hậu phác vị đắng, khí ấm. Ông Chân Quyền cho
rằng Hặu phác vị đắng, tính cay và rất nóng, phải nói là thuốc có vị cay, nóng,
đắng, ấm. Vì cay nóng thái quá thì tính nó phải có độc, lấy cái được nhờ dương
khí mà sửa chữa lại, nên không có độc. Cả khí lẫn vị đều nồng nặc là phần âm
giáng trong dương, vào kinh Túc thái âm, kinh thủ túc dương minh, nó chủ trị
chứng thương hàn trúng phong, đau đầu, nóng lạnh, cơ tê dại do khí huyết, do
ngoại tà phong hàn làm tổn thương ở phần dương thì thành chứng đau đầu, nóng
lạnh. Phong, hàn, thấp, vào phần tấu lý thì khí huyết ngưng trệ mà thành chứng
tý, nặng thì cơ nhục tê dại. Thuốc này vị cay nên tán được khối kết, vị đắng nên
táo được thắp, tính ấm nên đuổi được phong hàn, trị được các chứng trên. Sách
‘Biệt Lục’ ghi rằng Hậu phác chủ về ôn trung, tiêu đờm, hạ khí, trị hoắc loạn và
bụng đau, bụng đầy, trong Vị bị hàn, nôn mửa không cầm, chứng tiêu chảy, kiết lỵ,
tâm phiền, bứt rứt, do trường vị khí nghịch ủng trệ và đàm ẩm lưu kết, ăn uống
thức ăn sống lạnh gây nên. Được Hậu phác thì hạ tiết khai thông, ôn ấm tạng Thận,
các chứng không cần hết mà lại hết, còn như các chứng tiểu gắt, tuy thuộc bệnh ở
hạ tiêu, nhưng thường bởi vì có thấp nhiệt hạ chú, các loạí giun cũng do trường
vị có thắp nhiệt gây nên. Vị đắng có khả năng táo thấp, sát trùng, vì vậy, Hậu
phác cũng đều trị được. Trong sách ‘Bản Kinh’ lại ghi là Hậu phác chủ về tim hồi
hộp và sách ‘Biệt Lục’ ghi rằng Hậu phác trừ kinh sợ, khử lưu nhiệt, tất cả đều
không phải chứng thích nghi của Hậu phác. Chứng hồi hộp thuộc tâm hư, không liên
quan gì đến Tỳ Vị, Hậu phác có khí vị rất ấm lại có thể trừ được lưu nhiệt sao?
Còn về tác dụng ích khí, hậu trường vị cũng do ý là tà khí bị trừ thì chính khí
tự được bổ ích, tích trệ tiêu rồi thì trường vi tự được bồi bổ vậy, không phải
ngoài công năng tiêu tán lại có công năng bồ ích, người dùng phải tỏ tường (Bản
Thảo Kinh Sơ ).

Hậu phác vị cay, đắng, sách ghi là dùng chung
với Chỉ thực, Đại hoàng tức là bài Thừa Khí Thang thì làm tiết tả được chứng đầy
tức. Dùng cùng Thương truật, Quất bì tức là bài Bình Vị Tán, thì trừ được chứng
thấp đầy. Dùng cùng thuốc giải lợi thì chữa được chứng đau đầu trong bệnh thương
hàn. Dùng với thuốc tiêu xổ thì bồi bổ được trường vị. Đại khái là khí cay thì
tán nên hợp với chứng thấp, chứng mãn, vị đắng thì giáng nên xổ được chứng đầy,
cứng. Người đời nay không rõ, lầm cho là sách ghi Hậu phác ôn trung, ích khí,
hậu trường vị, thành thử bất kể hư chứng hay thực chứng đều dùng cả. Không biết
chứng thực thì khí có ích, hư chứng thì không tồn chăng? Thực thì trường vị có
thể hậu được, hư thì trường vị không bạc chãng? Còn như cho rằng phá huyết, sát
trùng cũng là khí hành nên huyết tự thông, vị đắng là ý sát trùng. Hễ sách liệt
kê công năng của thuốc đều là rút từ khí vị của thuốc, không phải là ghi theo
chủ trị riêng của từng vị thuốc, đó là ý kiến riêng vậỵ. Phác tức là vỏ cây Tần,
lấy loại dầy, màu tím là loại tốt (Bản Thảo Cầu Chân).

Hậu phác khí ấm, bẩm thụ mộc khí đi lên, lúc
mùa xuân, vào kinh túc Quvết âm Can, vị đắng, không độc, được vị hỏa của đất
phương Nam, vào thủ Thiếu âm Tâm kinh, khí vị thăng nhiều hơn là giáng dương.
Sách ‘Nạn Kinh’ ghi rằng: thương hàn có 5 loại, là trúng phong, thương hàn, thấp
ôn, nhiệt ôn, ôn bệnh vậy. Trúng phong, thương hàn là chứng trúng phong. Phong
khí thông với Can, mạch Can và mạch Đốc hội ở đỉnh đầu, phong bị dương tà sở
thương ở trên cho nên đau đầu, chủ trị cho chứng này là vị Hậu phác vào Can, có
tính ấm, làm tan vậy. Hàn nhiệt, hồi hộp là bệnh nóng lạnh mà hồi hộp vậỵ. Tâm
hư thì hồi hộp, Can hư thì kinh. Hậu phác khí ấm, có thể đến Can, vị đắng có thể
thanh Tâm. Can tàng huyết, Tâm sinh huyết, huyết ngưng kết thì thành chứng tý (tê),
vị đắng có thể tiết được, tính ấm có tác dụng hành đi được, vì vậy trị chứng
huyết tý cơ nhục tê dại, cũng vì huyết chạy được mà bì mao không tê dại vậy. Vị
đắ ng thì tiết được, tính ấm thì hành được, vì vậy cũng chủ trị được.Giun là do
thấp hóa ra, vị đắng thì táo thấp, có thể sát trùng, cho nên khử được (Bản Thảo
Kinh Giải).

Hậu phác khí ấm, bẩm mộc khí mà vào tạng Can,
vị đắng, không độc, được vị của hỏa mà vào Tâm, nhưng khí vị hậu mà chủ giáng,
giáng thì ấm mà chuvên về tan, đắng chuyên về tiết, nên sở chủ đều là thực chứng.
Chứng trúng phong, tiêu tiểu không thông, chứng thương hàn, suyễn, tiêu chảy,
bụng đầy tức, sau khi phát hãn,
táo bón, đầu đau, trọc khí xông lên, tất cả đều
nên lấy Hậu phác làm chủ để trị. Còn như vị ấm thì tán được hàn, vị đắng thì
tiết nhiệt được, tán được, tiết được thì có thể giải được chứng lo sợ, hồi hộp
do khí nghịch gây nên. Tán được thì khí hành, tiết được thì huyết hành, nên có
thể trị được chứng huyết tý, cơ nhục tê dại. Giun vốn từ thấp khí sinh ra, Hậu
phác tán mà tiết được thì giun sán khử được, thông sướng cái đầy tức hạ khí.
TRong kinh văn không có văn tự ghi rõ, ông Trọng Cảnh sử dụng vì vị đắng ấm của
nó là ra ngoài kinh văn vậy (Bản Thảo Kinh Độc).

Hậu phác có vị đắng, kèm có hơi ngọt, cho nên
vào thẳng trung châu tỳ thổ mà tán khí kết, vị đắng từ ấm, cho nên ở phần khí mà
tan được. HIễ bệnh bởi hàn thấp tà là rất đúng, còn bệnh bởí thấp nhiệt, có đắng
hàn để thanh nhiệt, táo thấp, mà mượn cái vị đắng tính ấm này nhằm tán kết của
nó, cũng thu được công hiệu. Về điều mà các tiên hiền dùng để trừ đầy tức làm
đầu, không nên lẫn lộn với chứng hư đầỵ tức mà không có tà. Nếu như là hàn thấp
thực tà, vốn theo chính trị của nó, tức là thấp nhiệt thành bệnh. Nếu tích nhiệt
do ãn uống những vị béo và ngoại cảm uất nhiệt, cũng là chứng thực trướng. Trong
thuốc đắng lạnh có thể mượn Hậu phác đề trừ đi, hoặc là trong khí hư mà thấp
nhiệt thì ắt phải xét hư thực, nặng nhẹ, càng phải xét theo thời gian mới bị
hoặc đã lâu để định công bổ nhiều hay ít, vị thuốc này lại chưa có thể khử được,
nếu vị thuốc đắng, hàn trừ tà quá nhiều, mà vị thuốc kiện tỳ ít, dùng cái này
tán kết thấp nhíệt thì e rằng vị đắng hàn công thẳng không thể tán được, lại như
vị thuốc đắng, ngọt, kiện tỳ nhiều mà thuốc trừ nhiệt ít, dùng thuốc này bổ ích
quá nhanh, e rằng vị ngọt mà bổ không thể thu ngay được, suy từ nghĩa này, các
chứng hễ dùng Hậu phác đều toàn là như vậy cả (Bản Thảo Thuật Cầâu Nguyên).

Hậu phác trị tam dương biểu chứng, trúng
phong, thương hàn, đầu đau do nhiệt. Hậu phác không phải là thuốc trị phần biểu
sao lại chỉ đưa ra làm công năng hàng đầu. Hậu phác vốn không phải là thuốc giải
biểu, chứng sợ hãi, hồi hộp hoặc huyết tý cơ bắp tê dại, lại toàn là biểu chứng,
theo ý của sách ‘Bản Kinh’, vì Hậu phác chủ về thương hàn, trúng phong, đầu đau,
hàn nhiệt hoặc hồi hộp, kinh sợ, hoặc khí huyết tý (tê), cơ bắp tê dại. Lưu Tiền
Giang cho rằng cây cỏ mà bốn mùa không héo, hoặc được thuần âm; hoặc được thuần
dương, như Hậu phác thì được thuần dương, vì vậy lấy phần vỏ cây sử dụng mà khí
vị đắng caỵ, sắc đỏ sẫm, vỏ tím, đó là vì quy về hình quy về khí vậy. Vị đắng hạ
tiết được, nhưng đắng mà ấm thì không hạ tiết mà làm ấm tan. Nếu đắng lạnh thì
xổ thẳng như Chỉ thực là vậy, giúp sự sinh hóa của khí ở trung châu Tỳ thổ,
thuốc này tuy vị đắng, nhưng đắng xong có cảm giác hơi ngọt, cho nên vào thẳng
tỳ thổ, mà tan được khí kết, những lời này là bằng chứng trị được chứng thương
hàn, trúng phong gốc bởi Tỳ thổ. Chứng thương hàn trúng phong biến hóa tuy nhiều,
đại khái không vượt ra ngoài tác dụng thương âm, thương dương, Thương âm thì táo
chứng biến hóa làm thành hồi hộp, sợ hãi. Thương dương thì thấp chứng biến hóa,
biến hóa thì thành khí huyết tý. Chứng hồi hộp, sợ hãi, thực ra gồm các chứng
vật vã, bứt rứt. Chứng khí huyết tý, thực ra bao gồm các chứng hậu đầy tức nôn
mửa, tiêu chảy. Giữa hai chứng hậu trên đều giống với biểu tà, biểu lấy lý làm
gốc mà tán biểu của nó, không xét đến phần lý thì cành lá đều không thể phục
sinh. Lý lấy biểu làm tiếp viện, mà thông phần lý, không xét phần biểu thì ngoại
tà nhân đó mà đi sâu hơn vào bên trong. Đấy, Hậu phác không trị thương hàn trúng
phong, mà thương hàn, trúng phong nội ngoại liên quan nhau, ắt không thể thiếu
vị Hậu phác được, vì vậy nên đưa vào làm đầu công dụng là thế. Cơ bắp tê dại,
trong sách Trọng Cảnh cho rằng như giun bò trong da, không biết đau. Cảm giác
như giun bò là chứng hậu, biểu khí hư đã lâu ngày thì cảm giác không biết đau là
chứng hậu dương khí bị uất kết, đây là vấn đề cơ bắp bị tê dại. Nếu sử dụng
trong các chứng không biết đau, thì không còn nghi ngờ gì mà không dùng Hậu phác.
Lưu Tiền Giang ghi rằng, Chỉ thực vị đắng mà cay, đắng nhiều cay ít, trong đắng
lại có ít chua, hễ đắng chua thì có khả năng tiết khí, còn hàn thì có tính giáng
xuống, do đó, vốn tính đi xuống, nhân lúc thởi tiết giáng xuống đang thịnh, lấy
cái âm mạnh nhất, và nhanh nhất. Hậu phác lúc đầu nếm thì đắng, trong đắng có
hơi hơi ngọt, sau cùng có ý cay mà không phải cay, là cái thừa của đắng, ấm, tục
gọi là ma (tê) vậy. Nhưng Hậu phác từ đắng ấm để tán kết, không như Chỉthực từ
đắng hàn để tiết trệ. Khí lấy ấm nóng làm thăng, làm bổ, vì quá đắng thì chuyển
từ giáng tiết mà tiêu đạo. Vì vậy, chủ trị của Hậu phác phải hợp với chứng hàn
hoặc chứng thấp, chủ trị của Chỉ thực hợp với chứng nhiệt hoặc chứng táo, mỗi vị
thuốc tùy chứng mà sử dụng. Ngược lại, thì Hậu phác dùng cho chứng kết táo nhiệt
là mượn cách tòng trị mà đạt hiệu quả. Nếu dùng lầm Chỉ thực cho chứng hàn thấp,
tltì khí vốn hạ mà lại còn bị giáng nữa, thì không chỉ không có ích mà còn có
hại là đằng khác nữa (Bản Kinh Sơ Chứng).

Công năng chủ yếu của Hậu phác là táo thấp,
trừ trướng đầy. Trâu Thụ cho rằng Hậu phác có vị đắng, có thể tiết xuống dưới,
nhưng vị đắng từ tính ôn ra thì không thể tiết xuống được, mà làm thành ôn tán,
nếu đắng mà từ’ hàn ra, thì thẳng mà tiết xuống, giống như vị Chỉ thực vậy. Đối
với việc phân tích chức năng của Hậu phác và Chỉ thực, có thể coi như là đúng
vậy. Vì Hậu phác lấy việc tán đầy, trừ trướng để trị, còn vị Chỉ thực lấy việc
tiêu kết đạo trệ để mà dùng. Chính vì điều đó mà Trọng Cảnh dùng Hậu phác để trị
chứng trướng mãn. Như bài ‘Hậu Phác Tam Vật Thang’ trong sách ‘Kim Quỹ Yếu Lược’
lấy vị Hậu phác làm quân, Đại hoàng, Chỉ thực làm tá, để trị bụng trướng, táo
bón, dựa vào chứng trướng làm trọng mà tích trệ làm nhẹ. Trong sách Cục phương,
bài ‘Bình Vị Tán’, dùng Hậu phác kết hợp với Thương truật, Trần bì, Cam thảo,
trị Tỳ Vị có thấp trệ, không thể vận hóa, là hội chứng thấp nặng mà khí trệ nhẹ.
Vì thế cho nên, bài trước dùng để trừ trướng, tán mãn làm chủ, còn bài sau lấy
táo thấp, vận lỳ để trị. Tuy sở trị khác nhau nhưng tóm lại không ra khỏi công
dụng ôn tán (Trung Dược Học Giảng Nghĩa).

Hậu phác vị đắng, nếu không chế sao với gừng
thì sẽ làm cay trong lưởi họng (Bản Thảo Diễn Nghĩa).

Khi dùng vào thuốc, Hậu phác phải sao với
nước cốt gừng hoặc tẩm nước cốt gừng rồi sao (Nhật Hoa Chư Gia Bản Thảo).

Phân biệt: cùng một tên Hậu phác, nhưng cây
trên là cây chính thức để dùng với tên Hậu phác, hiện nay phải nhập của Trung
Quốc. Ngoài ra cần phân biệt với các thứ Hậu phác sau:

1- Thứ Hậu phác Magnolia Officinalis var.
Biloba Rehd. et Wils. rất giống loài trên, chi khác ở đầu lá lõm xuống chia
thành 2 thùy.

2 – Ở Nhật Bản dùng cây Hậu phác tại đia phương
với cây Magnolia obovata Thunb., cũng thuộc họ Magnoliaceae.

Ngoài những cây trên ra, người ta còn dùng các
cây sau với tên là Hậu phác nam:

3 – Cây Hậu phác nam còn gọi là cây Re, Quế
rừng, Quế lợn (Cinnamomum iners Reinw. ex Blume) thuộc họ Lauraceae. Đó là cây
to, cao 8 – 10m, cành hình trụ, màu nâu đen. Lá to, thơm, mọc đối hoặc so le,
phiến tròn dài, chóp lá tù hay hơi nhọn, mặt dưới lá hơi mốc mốc. Ba gân gốc
chạy dọc đến gần chóp lá. Hoa trắng thơm mọc thành chùy ở nách lá và đầu các
cành, gồm 12 – 14 tán. Quả mọng hình bầu dục, dài 12 – 13mm, trên một chén. Cây
có hoa vào tháng 3 – 4 và quả vào tháng 5 , 6. Mọc nhiều ở Trung bộ Việt Nam,
rải rác trong rừng thứ sinh, ở Tuyên Quang, Bắc Thái (miền Bắc), ở rừng còi miền
Nam. Vỏ có thơm mùi quế mạnh, thường dùng đề làm hương trầm. Được dùng thế cho
vị Hậu phác Bắc theo kinh nghiệm, ngoài ra lấy rễ sắc uống sau khi sinh đẻ, khi
lên cơn sốt, dùng vỏ cây trị bụng đầy, ăn uống không tiêu, kích thích tiêu hóa.

4 – Cây Bá bệnh, Bách bệnh hay Mật nhân còn gọi
là Hậu phác nam Eurycoma longifolia Jack subsp. Longifolia (Crassula pinnata
Lour.) thuộc họ Simargoubaceae. Đó là cây nhỡ, cao 2 – 8m, có lông ở nhiều bộ
phận, lá kép gồm 10 – 36 đôi không cuống, mọc đối, mặt trên xanh bóng, mặt dưới
trắng xóa. Cuống lá màu nâu đỏ. Cụm hoa hình chùm kép hoặc chùm tán mọc ở ngọn,
cuống lá có lông màu rỉ sắt. Hoa đỏ nâu. Quả hình trứng, hơi dẹt, có rãnh gíữa,
khi chín màu vàng đỏ, chứa 1 hạt, trên mặt hạt có nhiều lông ngắn. Mùa hoa quả
tháng 3 – 11. Cây mọc hoang ở vùng rừng núi thưa, dưới tán cây gỗ lớn. Kinh
nghiệm nhân dân thường sắc rễ (rất đắng) để chữa sốt rét, ngộ độc, say rượu, xổ
giun. Vỏ thân cây sắc uống chữa chứng ăn không tiêu, kích thích tiêu hóa như Hậu
phác bắc. Kết hợp cả rễ cây và vỏ cây để chữa phụ nữ đau bụng lúc có kinh, nhức
mỏi tay chân. Quả dùng để chữa kiết lỵ, bụng dưới đau nơi phụ nữ, tắm trị ghẻ,
lở ngứa. Không dừng cho phụ nữ mang thai.

– Ngoài ra nhân dân còn dùng vỏ của cây De với
lên là Hậu phác nam (Cinnamonum obtusifolium : Nees var. Loureini Perrot et
Eberth, Cinnamonulm loureirii Nees). Đó là cây cao 12 – 20m, có cành hơi vuông,
nhẵn. Lá gần hình bầu dục, thuôn lại ở 2 đầu, chóp có mũi nhọn mềm, có 3 gân kéo
dàí tới chóp lá, mặt dưới phủ vảy nhỏ. Cuống lá có rãnh. Hoa họp thành chùy ở
nách, gần ở ngọn hoặc ở gốc các nhánh. Quả hình trứng, lúc non màu lục, khi chín
màu nâu tím, sáng bóng (Xem: Nhục quế). Và, cây Chành chành cũng với tên Hậu
phác nam (Cinnamomum liangii ~ Allen). Đó là cây to cao. Lá nguyên, mọc so le.
Mặt trên màu xanh đậm, sờ vào trơn tay, mặt dưới màu xanh nhạt, sờ vào thấy hơi
nhám. Lá vò ra nhai có chất nhớt, thoảng có mùi quế. Hoa rất nhỏ.

6 – Cần phân biệt để tránh nhầm lẫn với cây Vối
rừng (Eugenia jamboeana Lamk.) thuộc họ Myrtaceae, cũng dùng với tên Hậu phác.
Đó là cây cao, lá thuôn hẹp ở đáy, mặt trên bóng và thẫm màu, mặt dưới nhạt hơn,
phơi khô màu nâu. Cụm hoa mọc ở kẽ lá.

7 – Ở Trung Quốc còn loại “Hậu Phác Quảng Tứ
xuyên” gọi là “Xuyên hậu phác uốn thành ống tròn, vỏ ngoài màu vàng tro, hơi xù
xì, mặt trong màu nâu tím, nhiều dầu, nhai thì thấy ít bã, phẩm chất quý hơn cả,
được coi như là loại nhất. Còn loại có ở Phúc Kiến, Triết Giang gọi là “Ôn hậu
phác’, hầu hết hai bên uốn thành hai ống vào nhau, trên thị trường gọi là “Kiến
song quyển phác”, vỏ ngoài màu trắng tro, vỏ trong màu vàng tro, dầu ít, mặt bề
ngang có màu vàng, khí vị tương đối nhạt, là loại không được tốt (Danh Từ Dược
Học Đông Y).

Phân Biệt Với Các vị được gọi là Nam Hậu phác
như sau:

Vỏ De: Có vỏ cuộn hình vòng cung. Mặt ngoài
có lớp bần màu nâu nhạt, lốm đốm trắng, có nhiều rãnh nâu dọc ngang (có khi lớp
bần đã được cạo bỏ, để lộ lớp trong màu đỏ nâu), mặt trong màu nâu, nhẵn, mặ
cắtt ngang màu đỏ gạch hoặc đỏ nâu. Chắt chắc, khó bể, mùi thơm long não nhẹ, vị
cay, chát.

Vỏ Chành chành: Có vỏ hình lòng máng. Mặt
ngoài màu nâu xám, mặt trong màu nâu nhạt. Chất chắc, khó bẻ. Mặt cắt ngang màu
nâu sáng. Mùi giống mùi quế, vị cay nhớt.

+Vỏ Vối rừng: Có vỏ hình lòng máng hay cuộn hòn,
mặt ngoài màu nâu nhạt hay nâu xám, có lớp bần rầt dễ tróc, có nhiều đường nứt
ngang, dọc. Mặt trong màu nâu đen, còn sót lại một lớp gỗ mỏng rất dễ tách rời.
Chất xốp dễ bẻ, mặt cắt ngang màu nâu đen. Không mùi, không vị (Danh Từ Dược Học
Đông Y).

Nơi mua bán vị thuốc HẬU PHÁC đạt chất lượng ở đâu?

Trước thực trạng thuốc đông dược kém chất lượng, nguồn gốc không rõ ràng,… xuất hiện tràn lan trên thị trường, làm ảnh hưởng tới hiệu quả điều trị cũng như ảnh hưởng tới sức khỏe của bệnh nhân. Việc lựa chọn những địa chỉ uy tín để mua thuốc đông dược là rất quan trọng và cần thiết. Vậy khách hàng có thể mua vị thuốc HẬU PHÁC ở đâu?

HẬU PHÁC là vị thuốc nam quý, được sử dụng rộng rãi trong YHCT. Hiện tại hầu hết các cửa hàng thuốc đông dược, phòng khám đông y, phòng chẩn trị YHCT… đều có bán vị thuốc này. Tuy nhiên người mua nên chọn những địa chỉ có uy tín, đảm bảo chất lượng, có giấy phép hoạt động để mua được vị thuốc đạt chất lượng.

Với mong muốn bệnh nhân được sử dụng những loại dược liệu đúng, chất lượng tốt, Nhà thuốc Đông y An Nhiên Đường không chỉ là đia chỉ khám chữa bệnh tin cậy, uy tín chất lượng mà còn cung cấp cho khách hàng những vị thuốc đông y (thuốc nam, thuốc bắc) đúng, chuẩn, đạt chất lượng cao.

Các vị thuốc có trong tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam đều được nghành y tế kiểm nghiệm đạt chất lượng tiêu chuẩn.

Vị thuốc HẬU PHÁC được bán tại Phòng khám là thuốc đã được bào chế theo Tiêu chuẩn NHT.

Giá bán vị thuốc HẬU PHÁC tại Nhà thuốc Đông y An Nhiên Đường: 80.000vnd/1kg

Tùy theo thời điểm giá bán có thể thay đổi.

+ Khách hàng có thể mua trực tiếp tại địa chỉ phòng khám:

Văn Quán, Hà Đông, Hà Nội

Tag: cay HAU PHAC, vi thuoc HAU PHAC, cong dung HAU PHAC, Hinh anh cay HAU PHAC, Tac dung HAU PHAC, Thuoc nam

Annhienduong.com Tổng hợp

*************************

Náng, tác dụng chữa bệnh của Náng

Náng

Tên khác:

Náng hay Náng hoa trắng, Tỏi lơi, Chuối nước, Đại tướng quân

Tên khoa học: Crinum asiaticum L., thuộc họ Thuỷ tiên –
Amaryllidaceae.

Tiếng Trung: 文珠兰

Cây Náng

( Mô tả, hình ảnh, thu hái, chế biến, thành phần hoá học, tác
dụng dược lý
….)

Mô tả:

Cây thảo cao 1m, có hành (giò) cỡ trung bình, hình trứng,
đường kính 5-10cm, thót lại thành cổ dài 12-15cm hay hơn. Lá
mọc từ gốc, nhiều, hình dải ngọn giáo, lõm, có khía ở trên,
mép nguyên, dài tới hơn 1m, rộng 5-10cm. Cụm hoa hình tán
nằm ở đầu một cán dẹp dài 40-60cm, to bằng ngón tay, mang
6-12 hoa, có khi nhiều hơn, màu trắng, có mùi thơm về chiều,
bao bởi những mo dài 8-10cm. Hoa có ống mảnh, màu lục, các
phiến hoa giống nhau, hẹp, dài, 6 nhị có chỉ nhị đỏ, bao
phấn vàng. Quả mọng hình gần tròn, đường kính 3-5cm, thường
chỉ chứa một hạt.

Cây ra hoa vào mùa hè.

Bộ phận
dùng:

Toàn cây – Herba Crini Asiatici.

Nơi sống
và thu hái
:

Loài phân bố từ Ấn Độ qua Inđônêxia tới đảo Molluyc. Ở nước
ta, cây mọc hoang dại ở những nơi ẩm mát, dựa rạch, cũng
thường trồng làm cảnh; người ta thường tách các hành con để
trồng. Để làm thuốc, người ta thu hái các bộ phận khác nhau
của cây quanh năm, dùng tươi hay phơi khô.

Thành phần
hoá học:

Trong lá náng các nhà khoa học phát hiện được hoạt chất ancaloit (Ngày nay hoạt chất này được dùng để điều trị phì đại tuyến tiền liệt). Năm 1963 giáo sư Đỗ Tất Lợi, Ngô Văn Thu và Phạm Xuân Cù đã tiến hành nghiên cứu về thành phần hóa học trong cây náng hoa trắng Việt Nam và đã phát hiện thành phần ancaloit trong lá, hoa và củ náng hoa trắng.

Đây là một cơ sở căn cứ khoa học quan trọng, là tiền đề để phát triển các loại thực phẩm chức năng các loại thuốc sau này có nguồn gốc từ cây náng hoa trắng.

Đã trải qua rất nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước và quốc tế. Tại nước ta ngoài công trình nghiên cứu của Giáo sư (Đỗ Tất Lợi, Ngô Văn Thu và Phạm Xuân Cù năm 1963). Năm 2008 tiến sĩ Nguyễn Bá Hoạt sau nhiều năm đi sâu nghiên cứu về cây thuốc này, Tiến sỹ đã đi đến kết luận náng hoa trắng có tác dụng làm giảm vì đại lành tính tiền liệt tuyến tới 35%. Đây là một nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng đối với những bệnh nhân mắc về đại tiền liệt tuyến và xơ tuyến tiền liệt. Tác dụng trên có được là do trong cây náng hoa trắng có một hàm lượng rất lớn hoạt chất ancaloit, hàm lượng hoạt chất này lớn gấp 3 lần cây trinh nữ hoàng cung.

Vị thuốc Náng

( Công dụng, Tính vị, quy kinh, liều dùng …. )

Tính vị:

Vị cay, tính
mát, có độc.

Quy kinh:

Đang cập nhật.

Công dụng:

Thông huyết, tán ứ, tiêu sưng, giảm
đau.

Ứng dụng lâm sàng của vị thuốc
Náng

Điều trị phì đại tiền liệt tuyến:

Lá náng hoa trắng khô 6 g, Cây xạ đen 40 g, Ké đầu ngựa 10 g. Các vị
thuốc đem rửa sạch rồi sắc với 1 lít nước uống trong ngày. Dùng liên tục
liệu pháp này trong khoảng 1 tháng là có hiệu quả.

Điều trị viêm đau, bong gân, xương khớp

Ngoài ra kinh nghiệm dân gian còn dùng lá náng hơ nóng để đắp vào
những nơi bị bong gân, sai khớp giúp điều trị bong gân, sai khớp đau
nhức mỏi xương khớp rất tốt.

Điều trị bệnh trĩ ngoại

Lấy 30g lá náng hoa trắng đun với 1 lít nước, lấy nước nguội đem rửa
vùng bị trĩ ngoại. Làm liên tục 1 tuần, mỗi ngày rửa 1 lần sẽ có hiệu
quả co búi trĩ rất tốt.

Dùng gây nôn

Lá náng còn dùng ở dạng tươi để gây nôn. Lưu ý dùng với liều lượng từ
8 -16 gam cây tươi, không nên dùng quá liều về có thể gây ngộ độc.

Mụn nhọt, rắn cắn, bệnh ngoài da,
Trĩ ngoại, giã lá

Náng
tươi đắp, hoặc ép lấy nước uống.

Tham khảo

Ghi chú:

Nếu ăn phải hành của Náng, hoặc uống nước ép đặc sẽ bị nôn
mửa, đau bụng, ỉa chảy, mạch nhanh, hô hấp không đều, nhiệt
độ cơ thể cao, thì giải độc bằng nước trà đặc hoặc dung dịch
acid tannic 1-2%. Hoặc cho uống nước đường, nước muối loãng;
cũng có thể dùng giấm với nước Gừng (tỷ lệ 2:1) cho uống.

Tag: cay Nang, vi thuoc Nang, cong dung cua Nang, Hinh anh cay Nang, Tac dung
cua Nang, Thuoc nam

Nơi mua bán vị thuốc Náng đạt chất lượng ở đâu?

Trước thực trạng thuốc đông dược kém chất lượng, nguồn gốc không rõ ràng,… xuất hiện tràn lan trên thị trường, làm ảnh hưởng tới hiệu quả điều trị cũng như ảnh hưởng tới sức khỏe của bệnh nhân. Việc lựa chọn những địa chỉ uy tín để mua thuốc đông dược là rất quan trọng và cần thiết. Vậy khách hàng có thể mua vị thuốc Náng ở đâu?

Náng là vị thuốc nam quý, được sử dụng rộng rãi trong YHCT. Hiện tại hầu hết các cửa hàng thuốc đông dược, phòng khám đông y, phòng chẩn trị YHCT… đều có bán vị thuốc này. Tuy nhiên người mua nên chọn những địa chỉ có uy tín, đảm bảo chất lượng, có giấy phép hoạt động để mua được vị thuốc đạt chất lượng.

Với mong muốn bệnh nhân được sử dụng những loại dược liệu đúng, chất lượng tốt, Nhà thuốc Đông y An Nhiên Đường không chỉ là đia chỉ khám chữa bệnh tin cậy, uy tín chất lượng mà còn cung cấp cho khách hàng những vị thuốc đông y (thuốc nam, thuốc bắc) đúng, chuẩn, đạt chất lượng cao.

Các vị thuốc có trong tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam đều được nghành y tế kiểm nghiệm đạt chất lượng tiêu chuẩn.

Vị thuốc Náng được bán tại Phòng khám là thuốc đã được bào chế theo Tiêu chuẩn NHT.

Giá bán vị thuốc Náng tại Nhà thuốc Đông y An Nhiên Đường: Gọi 035.2345.848 để biết chi tiết

Tùy theo thời điểm giá bán có thể thay đổi.

+ Khách hàng có thể mua trực tiếp tại địa chỉ phòng khám:

Văn Quán, Hà Đông, Hà Nội

Tag: cay Nang , vi thuoc Nang , cong dung Nang , Hinh anh cay Nang , Tac dung Nang , Thuoc nam

Annhienduong.com Tổng hợp

*************************

Ích mẫu, tác dụng chữa bệnh của Ích mẫu

ÍCH MẪU – Thấu cốt thảo

Tên khác

Tên dân gian: Vị thuốc Ích
mẫu còn gọi Dã Thiên Ma

(Bản Thảo Hội Biên), Đại Trát, Phản Hồn Đơn, Thấu Cốt Thảo, Thiên Chi Ma, Thiên
Tằng Tháp, Tiểu Hồ Ma, Uất Xú Miêu, Xú Uất Thảo
(Hòa Hán Dược Khảo), Đồi Thôi (Xuyến
Nhã), Hạ Khô Thảo
(Ngoại Đài Bí Yếu),Hỏa Hiêm, Ích Minh
(Bản Kinh), Khổ Đê
Thảo
(Thiên Kim Phương), Ngưu Tần (Xuyến Nhã Chú), Phụ Đảm, Quĩ, Sung Uất Tử,
Tạm Thái
(Bản Thảo Thập Di), Trinh Úy (Danh Y Biệt Lục), Thổ Chất Hãn, Trư Ma (Bản
Thảo Cương Mục), Uất Xú Thảo
(Cừu Ân Sản Bảo), Uyên Ương Đằng,
(Trung Quốc Dược
Học Đại Từ Điển), Sung Úy Thảo (Đông Dược Học Thiết Yếu). hạt cây gọi là Sung úy tử

Tên
Khoa Học:
Herba
leonuri Heterophylli.Leonurus heterophyllus Sweet.

Họ khoa học: Họ Hoa Môi (Lamiaceae).

Tên tiếng trung: 益母草 (Yì Mǔ Cǎo – ích mẫu thảo)

Cây ích mẫu

(Mô tả, hình ảnh cây ích mẫu, phân bố, thu hái, thành phần hóa học, tác
dụng dược lý…)

Hình ảnh cây ích mẫu, ích mẫu
Tả:

Cây ích mẫu là một cây thuốc nam quý, dạng cây thảo,
sống 1-2 năm. Cao 0,6-1m, thân hìnhvuông, ít phân nhánh, toàn thân có phủ lông
nhỏ, ngắn. Lá mọc đối, tùy theo lá mọc ở gốc, giữa thân hoặc đầu cành mà hình
dạng khác nhau: lá ở gốc có cuống dài, phiến lá hình tim, mép có răng cưa thô và
sâu; Lá ở thân có cuống ngắn hơn, phiến lá thường cắt sâu thành 3 thùy, trên mỗi
thùy lại có răng cưa thưa; Lá trên cùng không chia thùy và hầu như không có
cuống. Hoa mọc vòng ở kẽ lá. Tràng hoa màu hồng hoặc tím hồng, phía trên xẻ môi,
môi trên môi dưới gần bằng nhau. Quả nhỏ 3 cạnh, vỏ màu xám nâu. Mùa hoa tháng
3-5, mùa quả tháng 6-7.

Phân bố: Việt nam, Trung Quốc, nga, Triều Tiên, Nhật bản, nhiệt đới Á Châu, Phi Châu, cùng với Mỹ Châu Mọc hoang chủ yếu ở bãi cát, ruộng hoang.

Thu
Hái, Sơ Chế:

Thu hoạch
lúc cây bánh tẻ (chớm ra hoa), cắt lấy cây, để chừa 1 đoạn gốc cách mặt đất
khoảng 5-10cm để cây tiếp tục đâm chồi thu hoạch lần thứ 2, thứ 3. Lúc trời khô
ráo, cắt cây, phơi nắng hoặc sấy nhẹ cho khô.

Bộ
Phận Dùng:

Cả cây (Herba
Leonuri). Dùng thứ cây có thân cành vuông, có nhiều lá, sắp ra hoa, dài khoảng
20-40cm kể từ ngọn trở xuống thì tốt nhất. Có thể dùng riêng hạt, gọi là Sung Úy
Tử (Fructus Leonuri)..

2. Mô
tả dược liệu ích mẫu

Hình ảnh hạt ích mẫu

Thân hình
trụ vuông, bốn mặt có rãnh dọc, phái trê chia nhiều cành, dài 80cm – 1,2m, đường
kinh 0,8cm. Bên ngoài mầu xanh úa hoặc xanh lục, chất nhẹ và dẻo, bẻ ra trong có
tủy trắng. Lá mọc đối, có cuống, lát lá mầu xanh, nhăn, xoắn, thường rách. Tùy
từng đoạn thân mà dạng lá có khác nhau, lá bên dưới hình bàn tay xẻ ba, lá bên
trên hình lông chim,xẻ ba, sâu hoặc rộng, thùy mép nguyên hoặc có ít răng cưa,
lá ngọn hơi nhỏ, không cuống. Có cây ở nách lá ra hoa nhỏ mầu đỏ tía, mọc thành
một vòng. Cánh hoa hình môi, đài hoa hình ống. Thơm mùi cỏ (Dược Tài Học).

Bào
Chế
:

Rửa sạch,
bằm nát, tẩm rượu hoặc giấm, sao vàng (dùng trong thuốc thang), hoặc nấu thành
cao đặc. Tránh dùng dụng cụ bằng sắt ( Phương Pháp Bào Chế Đông Dược.

Bảo
Quản:
 

Để nơi khô
ráo, tránh ẩm mốc

Thành
Phần Hóa Học của ích mẫu

+Có
Leonurine, Stachydrine, Leonuridien, Leonurinine, Lauric acid, Linolenic acid,
Sterol, Stachose, 4-Guanidino-1-Butanol, 4-Guanidino-Butyric acid, Vitamin A (Trung
Dược Học).

+ Trong Ích
mẫu có: Leonurine, Stachydrine, Ruebase, 4-Guaridino butanol, 4-Guauidino
butyric acid, Arginine, Arg, Stigmsterol, Sitosterol, Bensoic acid, Potassium
chloride, Lauric acid, Laurate, Linolenic acid, b-Linoleic acid, Oleic acid (Trung
Dược Dược Lý Độc Tính Dữ Lâm Sàng).

+ Theo tài
liệu nước ngoài, lá Ích mẫu (Leonurus sibiricus) chứa các Ancaloid: Leonurin,
Leonuridin, Tanin (2-9%), chất đắng, Saponin, Tinh dầu (vết). Loài
L.Heterophyllus có Stachydrin. Theo Viện Dược Liệu Việt Nam, Ích mẫu có 3
Alcaloid (trong đó có Alcaloid có N bậc 4), 3 Flavonosid (trong đó có Rutin), 1
Glycosid có khung Steroid. Hạt chứa Leonurin (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).

Tác
Dụng Dược Lý

Hình ảnh ích mẫu hạt sao

+ Tác dụng
trên tử cung: Nơi súc vật thí nghiệm, Ích mẫu có tác dụng trực tiếp hưng phấn tử
cung, làm cho tử cung co thắt nhiều và mạnh hơn dù yếu hơn Oxytocin. Trong 1 số
thí nghiệm, 1 Ancaloid của Ích mẫu thảo có tác dụng này trên vật được gây tê.
Điều trị tử cung sa bằng nước sắc Ích mẫu thấy có tác dụng giống như thuốc
Ergotamine, tuy nhiêntác dụng của Ích mẫu chậm nhưng an toàn hơn (Tài Nguyên
Cây Thuốc Việt Nam).

+ Tác dụng
lên tim mạch: đối với tim cô lập chuột Hà Lan, thuốc có tác dụng tăng lưu lượng
động mạch vành, 1 chậm nhịp tim, cải thiện vi tuần hoàn bị rối loạn, ức chế tiểu
cầu ngưng tập, nâng cao hoạt tính Fibrinogen, có tác dụng làm tan huyết khối
trong phổi súc vật thực nghiệm. Tác dụng này chỉ có 1 thời gian ngắn. Cao Ích
mẫu làm hạ huyết áp, nhất là đối với thời kỳ đầu của bệnh. (Tài Nguyên Cây Thuốc
Việt Nam).

-Tác dụng
lên hệ thần kinh trung ương: chất Leonurine hưng phấn trung khu hô hấp ở não và
1 Ancaloid trong Ích mẫu ức chế thần kinh trung ương của ếch. Điều trị cầu
Thận-tiểu cầu viêm bằng nước sắc Ích mẫu cho 80 bệnh nhân nhiều độ tuổi khác
nhau, được điều trị bình thường. Tất cả đều khỏi. Thời gian trị ngắn nhất là 5
ngày, chậm nhất là 36 ngày. Theo dõi trong 5 năm, không thấy có tái phát (Trung
Dược Học).

Đối với
Leonurus heterophyllus Sweet:

. Nước sắc
Ích mẫu này trên tử cung thỏ với nồng độ dưới 1/4 có tác dụng gây hưng phấn và
với nồng độ trên 5,6% lại gây ức chế co bóp tử cung.

Ngoài ra,
cây thường có tác dụng gây sẩy thai: trên chuột lang có thai, nặng 520-540g, cho
uống nước sắc Ích mẫu với liều cao 15-17,5g/ 1 chuột, sau 2-4 ngày, cả 3 chuột
đều bị sẩy thai (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).

.Trên thỏ có
thai, uống nước sắc Ích mẫu với liều 6-7g/kg, sau 2-7 ngày toàn bộ thỏ dùng
thuốc đều bị sẩy thai. Trên thỏ cái đã được giao phối với thỏ đực, cho uống nước
sắc Ích mẫu với liều 4g/kg, trong 7 ngày liên tiếp ngày sau khi giao phối, kết
quả cả 3 thỏ dùng thuốc đều không thụ thai trong vòng 35 ngày, trong khi đó,
nhóm thỏ đối chứng thì sinh đẻ bình thường (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).

. Trên hệ
tim mạch: qua 14 thí nghiệm trên tim ếch cô lập, trên huyết áp mèo và thỏ, bằng
phương phápthí nghiệm cấp diễn, Leonurus heteophyllus đã được chứng minh có
tác dụng hồi phục hoạt động co bóp của tim ếch tiền bị gây rối loạn co bóp,
nhưng không có đặc hiệu đối với huyết áp, chỉ gây ức chế nhẹ và nhất thời (Tài
Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).

. Đối với
hoạt động của ruột, trên tiêu bản ruột cô lập của thỏ và chuột lang, Ích mẫu
nồng độ thấp 0,7% có tác dụng kích thích co bóp ruột, còn với nồng độ cao trên
2,1% lại ức chế hoạt động này. Ích mẫu có tác dụng làm tăng nhạy cảm của biểu mô
âm đạo chuột cống trắng đối với Oestrogen. Trên chuột cống cái đã cắt bỏ 2 buồng
trứng, tiêm Oestradiol Benzoat với liều 0,04mg/ ngày sẽ xuất hiện Oestrus; với
liều thấp 0,025mg/ ngày, không thấy xuất hiện Oestrus nhưng nếu phối hợp liều
thấp này với Ích mẫu 1g/ ngày thì lại thấy xuất hiện Oestrus (Tài Nguyên Cây
Thuốc Việt Nam).

Loại
Leonurus sibiricus L. có những tác dụng sau:

. Đối với tử
cung thỏ cô lập, Leonurine chiết xuất từ Leonurus sibiricuscó tác dụng tăng
cường trương lực và tần số co bóp tử cung. Qua 112 lần thí nghiệm trên tử cung
cô lập của chuột lang, thỏ và chó, cao lỏng Ích mẫu tăng cường sức co bóp và
trương lực cơ tử cung, trên các loại động vật khác nhau đều có kết quả giống
nhau. Tác dụng này giống như tác dụng với chế phẩm thùy sau tuyến yên nhưng yếu
hơn và bằng đã tác dụng của vị Hồng hoa (Carthamus tintorius L.). Thí nghiệm
trên thỏ, nước sắc Ích mẫu bằng đường uốngvới liều 2,0-3,0/kg có tác dụng tăng
cường hơi động co bóp tử cung tại chỗ. Tác dụng này thể hiện trên tử cung bình
thường cũng như tử cung có thai. Điều đáng chú ý là cao Ích mẫu chiết bằng nước
hoặc cồn mới có tác dụng tăng cường co bóp tử cung, còn thành phần tan trong
Ether thì trái lại, có tác dụng ức chế hoạt động co bóp của tử cung (Tài Nguyên
Cây Thuốc Việt Nam).

. Đối với hệ
tim mạch: trên tim ếch cô lập, Ancaloid từ Ích mẫu với lượng ít có tác dụng tăng
cường sức co bóp cơ tim, với lượng lớn thì làm tim ngừng đập. Trên tiêu bản chi
sau của ếch, bằng phương pháptiêm truyền, Alcaloid trên có tác dụng gây co
mạch nhưng không mạnh . trên các cơ quan cô lập khác của thỏ, thuốc cũng có tác
dụng tương tự. Đối với huyết áp, Alcaloid A chiết được từ Ích mẫu, trên mèo gây
mê với liều dùng thích hợp, bản thân thuốc không có tác dụng đối với huyết áp
nhưng nó có thể giảm hoặc đảo ngược tác dụng tăng huyết áp của Adrenalin (Tài
Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).

. Tác dụng
tán huyết: dung dịch Leonurin 1:200, đối với nhũ dịch hồng cầu thỏ, có tác dụng
tán huyết hoàn toàn. Với nồng độ 1: 1000 vẫn có tác dụng, nhưng trên người, với
liều điều trị hàng ngày dùng bằng đường uống các chế phẩm từ Ích mẫu đều không
thấy xuất hiện triệu chứng tán huyết (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).

. Đối với hô
hấp: trên mèo gây mê bằng Urethan, dung dịch Leonurin 1% tiêm tĩnh mạch làm tăng
tần số và biên độ hô hấp. Tác dụng này là do thuốc kích thích trực tiếp trung
khu thần kinh phế vị (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).

. Tác dụng
lợi tiểu: trên thỏ gây mê, Leonurin với liều 1mg/kg tiêm tĩnh mạch, vài phút sau,
lượng nước tiểu bài tiết tăng gấp 2-3 lần (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).

. Tác dụng
đối với hệ thần kinh: Leonurus sibiricus có tác dụng an thần và tác dụng này
mạnhhơn Valerian (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).

. Tác dụng
kháng khuẩn: dịch chiết từ Ích mẫu (1: 4) có tác dụng ức chế 1 số vi khuẩn gây
bệnh ngoài da (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).

+ Ích mẫu
được dùng điều trị cho 234 bệnh nhân rối loạn kinh nguyệt, thấy cây có tác dụng
điều trị tốt đối với những trường hợp kinh ít, kinh thưa, thống kinh cơ năng.
Trường hợp kinh thẫm màu, thuốc có tác dụng làm cho màu huyết tươi. Trường hợp
kinh thưa, thuốc có tác dụng làm cho chu kỳ tương đối mau và đều hơn. Trường hợp
thống kinh cơ năng, thuốc có tác dụng làm giảm hoặc khỏi hẳn. Đối với trường hợp
kinh nhiều, Rong kinh do cường Oestrogen, Ích mẫu không có tác dụng. Tuy nhiên
cũng có nhận định cho rằng Ích mẫu lại có tác dụng tốt đối với những trường hợp
kinh ra nhiều hoặc Rong kinh (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).

Vị thuốc ích mẫu

(Công dụng, liều dùng, quy kinh, tính vị…)

Tính Vị

Hình ảnh vị thuốc ích mẫu

+ Vị cay,
hơi đắng, không độc (Bản Thảo Cương Mục).

+ Vị hơi
đắng, hơi cay, hơi hàn, tính hoạt (Cảnh Nhạc Toàn Thư).

+ Vào kinh
Tâm, Can, Bàng quang (Trung Dược Học).

+ Vị cay,
đắng, hơi hàn, không độc (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

+ Vị đắng,
cay, tính hơi hàn (Trung Dược Học).

+ Vị cay,
hơi đắng, tính hàn (Đông Dược Học Thiết Yếu).

Quy Kinh

+ Vào kinh
Tâm bào (Bản Thảo Hối Ngôn).

+ Vào kinh
Can, Tâm bào, Tỳ (Dược Phẩm Hóa Nghĩa).

+ Vào kinh
Tâm, Tỳ, Thận (Bản Thảo Tái Tân).

+ Vào kinh
Tâm bào lạc, Can (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

+ Vào kinh
Can, Tâm bào (Trung Dược Học).

+ Vào kinh
Tâm, Can (Đông Dược Học Thiết Yếu).

Tác
Dụng

Hình ảnh vị thuốc phong tiên thấu cốt thảo

+ Tiêu thủy,
hành huyết, trục huyết cũ, sinh huyết mới, điều kinh, chủng tử, giải độc (Trung
Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

+ Hoạt huyết,
điều kinh, khứ ứ, lợi tiểu, tiêu viêm (Trung Dược Học).

+ Trừ huyết
ứ, sinh huyết mới, hoạt huyết, điều kinh (Đông Dược Học Thiết Yếu).

Chủ
Trị:

Trị kinh
nguyệt không đều, thống kinh, vô sinh , khí hư ra nhiều, bụng đau sau khi sinh,
huyết vận, sinh xong sản dịch ra không dứt (Trung Dược Đại Từ Điển).

Liều
Dùng:

Dùng
10-30g.

Dùng
ngoài tùy nhu cầu.

Ứng dụng lâm sàng của vị thuốc ích mẫu

Trị các
loại mụn nhọt, nhũ ung, trẻ nhỏ đầu bị lở loét: Dã thiên ma (Ích mẫu thảo) 20g,
cho vào nồi sành, đổ nước đầy ngập gấp đôi, nấu cạn còn phân nửa, chia ra làm
3-4 lần để rửa nơi đau. Tính nó sát được trùng, làm cho khỏi ngứa, thật là thần
hiệu (Thiên Kim phương).

Trị sản
hậu huyết bị bế không ra được:

Ích mẫu, gĩa vắt lấy nước cốt, thêm ít rượu, uống
1 chén (Thánh Huệ phương).

Trị sữa bị
tắc gây ra nhũ ung:

Ích mẫu, tán bột, hòa với nước bôi trên vú 1 đêm là khỏi (Thánh
Huệ phương).

Trị tai
thối, chảy nước vàng ra hoài:

Dùng ngọn và lá non cây Ích mẫu, gĩa, vắt lấy nước
cốtnhỏ vào tai (Thánh Huệ phương).

Trị đinh
nhọt, lở ngứa:

Ích mẫu gĩa nát đắp vào chỗ đau. Nhưng phải vắt lấy nước cốt uống
mới mau khỏi và còn có ý để phòng độc chạy vào trong (Thánh Huệ phương).

Trị xích
bạch đới hạ:

Ích mẫu (hoa), lúc mới nở, thái nhỏ, phơi khô. Tán bột. Uống trước
bữa ăn, mỗi lần 12g, với nước sôi (Tập Nghiệm phương).

Trị trẻ
nhỏ bị cam tích rồi đi lỵ nặng:

Ích mẫu, lấy lá non và búp, nấu với cháo cho ăn
(Quảng Lợi Thần Hiệu phương).

Trị thai
chết trong bụng:

Ích mẫu, gĩa nát, cho vào ít nước còn hơi nóng, vắt lấy nước
cốt uống (Vi Trụ Độc Hành phương).

Trị sản
hậu bị huyết vận mà Tâm khí muốn tuyệt:

Ích mẫu gĩa vắt lấy nước uống 1 chén (Tử
Mẫu Bí Lục).

Trị trĩ:

Ích mẫu, gĩa vắt lấy nước cốt cho uống (Thực Y Kính phương).

Trị mụn
nhọt rôm sẩy:

Ích mẫu thảo, gĩa nát đắp (Đẩu Môn Phương).

Trị họng
sưng đau, nghẹn, khó thở:

Ích mẫu, gĩa nát, hòa với 1 chén nước mới múc dưới
sông lên, vắt lấy nước cốt, uống hết sẽ làm cho nôn ra được là khỏi (Vệ Sinh
Giản Tiện Phương).

Đề phòng
trẻ mới sinh sau này không bị ghẻ lở:

Ích mẫu nấu nước tắm (Giản Yếu Tế Chúng
Phương).

Trị kinh
nguyệt không đều, trưng hà, lâu ngày không có thai:

Ích mẫu thảo, Đương quy, Mộc
hương, Xích thược, lượng bằng nhau. Tán bột, luyện mật làm hoàn to như hạt bắp,
uống với nước nóng (Ích Mẫu Hoàn – Y Học Nhập Môn).

Trị thai
chết trong bụng:

Ích mẫu gĩa lấy nước cốt hòa với nước Đồng tiện (Trung Quốc
Dược Học Đại Từ Điển).

Trị kinh
nguyệt không đều:

Ích mẫu 10g, Đương quy 10g, Xích thược 10g, Mộc hương 5g. Phơi
khô, tán bột, uống (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).

Trị kinh
nguyệt không đều:

Cao Ích mẫu (gồm Ích mẫu 800g, Ngải cứu 200g, Hương phụ 250g,
Tá dược vừa đủ 1 lít). Ngày uống 2-3 lần mỗi lần 10-20ml (Tài Nguyên Cây Thuốc
Việt Nam).

Bổ huyết
điều kinh:

Ích mẫu 80g, Nga truật 60g, Ngải cứu 40g, Củ gấu 40g, Hương nhu 30g.
Các vị sao, tán bột, luyện với đường làm viên to bằng hạt đậu xanh. Ngày uống 60
viên, chia làm 3 lần (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).

Trị kinh
nguyệt không đều, thống kinh, sau khi sinh hoặc nạo thai mà máu ra nhiều:

Ích
mẫu (tươi) 60g, Kê huyết đằng 30g. Sắc nước, thêm đường uống (Sổ Tay Lâm Sàng
Trung Dược).

Trị kinh
nguyệt không đều, sau khi sinh tử cung xuất huyết, kinh nguyệt ra nhiều:

Ích mẫu
15-20g, sắc uống. Tác giả nhận xét là sau khi uống 1-2 giờ, có 14,6 đã tử cung
co bóp tăng, sau 2 giờ tử cung tăng lên 25% (Trung Hoa Phụ Sản Khoa Tạp Chí
1956, 2: 202).

Trị phù do
cầu Thận viêm mạn, huyết áp cao:

Ích mẫu 20g, Bạch mao căn 15g, Phục linh 15g,
Xa tiền tử 15g, Bạch truật 10g, Tang bì 10g. Sắc uống (Sổ Tay Lâm Sàng Trung
Dược).

Trị phù do
cầu Thận viêm mạn, huyết áp cao:

Ích mẫu 100-200giữa (dùng tươi: tăng gấp đôi –
trẻ em giảm 1/2 liều) sắc với 700ml nước còn 300ml, chia 3 lần uống. Có tác dụng
lợi tiểu, tiêu phù rõ. Đối với cầu thận viêm cấp kết quả tốt (Vân Nam Trung Y
Tạp Chí 1984, 2: 84).

Trị bệnh
mạch vành:

Vương Triết Thân và cộng sự dùng thuốc tiêm Ích mẫu nhỏ giọt tĩnh
mạch trị 100 cas bệnh mạch vàng, thiếu máu cơ tim. Kết quả lâm sàng tốt 45%, có
tiến bộ 39%. Tỉ lệ có kết quả 84%, kết quả điện tim tốt 28%, tiến bộ 33%, tỉ lệ
điện tim là 61% (Trung Y Tạp Chí 1985, 26(3): 29).

Trị huyết
áp cao:

Ích mẫu, Ngô đồng, Hy thiêm thảo, Hạ khô thảo, chế thành bài thuốc trị
59 cas huyết áp cao. Sau 1 ngày uống thuốc, huyết áp đã hạ. Tác dụng tốt nhất
vào ngày thứ 10 (Tuyển Tập Tư Liệu Nghiên Cứu Y Học – Sở Nghiên Cứu Y Dược Phúc
Kiến 1977, 3:23).

Trị kinh
nguyệt không đều, thống kinh:

Ích mẫu 800g, Ngải cứu 200g, Hương phụ 250g, Xi rô
và cồn 150 nấu vừa đủ 1 lít. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 10-20ml (Cao Ích Mẫu –
Những Cây Thuốc Và Vị Thuốc Việt Nam).

Tham khảo

Sung úy
tử tính nó hoạt huyết, hành khí, có công bổ âm, đàn bà khi có thai và sau khi
sinh nở chỉ cậy vào khí huyết mà thôi, vị này có thể làm cho lú có thai khí
huyết không bị trệ, lúc mới sinh khí huyết không bị hư.
Thuốc có thể vừa hành vừa bổ, thật là một vị thuốc thánh của các bà” (Bản Thảo
Diễn Nghĩa Bổ Di).

+Sung úy
tử là vị thuốc dương dương trong, ngoài âm. Hoa mầu trắng thì vào phần khí, hoa
tím thì vào phần huyết, thự là một vị thuốc hay để trị đàn bà, con gái kinh
nguyệt không đều và các bệnh về khí huyết, trong khi có thai hoặc sau khi sinh.
Dùng nó cùng với các thang Tứ Vật hoặc vị Hương phụ rất có công hiệu vì nó có
tính hoạt huyết, bổ âm, cho nên có thể làm cho sáng mắt, thêm tinh, điều kinh và
trị được các bệnh của phụ nữ” (Bản Thảo Cương mục).

+“Ích mẫu
thảo thường hoạt huyết, điều kinh, có khi dùng chung với Sung úy tử, theo phương
pháphoạt huyết mà không phá huyết, là vị thuốc quan trọng nhất đối với việc
điều kinh ở phụ nữ và sản hậu. Hễ có nhiệt vào đúng lúc đang hành kinh, để phòng
nhiệt nhập vào huyết thất, có thể dùng vị thuốc này để điều kinh, trừ ứ huyết,
sinh máu mới hoặc đang hành kinh hoặc chưa hành kinh đều có thể dùng vị thuốc
này để điều kinh (Đông Dược Học Thiết Yếu).

+“Nếu dùng
làm thuốc an thai phải phối hợp với Củ gai và Tô ngạnh” (Dược Liệu Việt Nam)

Kiêng Kỵ khi dùng ích mẫu

+ Người vốn
đã có huyết hư nhưng không có ứng huyết: không dùng (Trung Quốc Dược Học Đại Từ
Điển).

+ Kỵ thai,
âm huyết hư: không dùng (Trung Dược Học).

Bài thuốc chữa rối loạn kinh nguyệt

Vị thần hạnh phúc cho các cặp vợ chồng hiếm muộn

Tư vấn bệnh hiếm muộn

 

Nơi mua bán vị thuốc ÍCH MẪU đạt chất lượng ở đâu?

Trước thực trạng thuốc đông dược kém chất lượng, nguồn gốc không rõ ràng,… xuất hiện tràn lan trên thị trường, làm ảnh hưởng tới hiệu quả điều trị cũng như ảnh hưởng tới sức khỏe của bệnh nhân. Việc lựa chọn những địa chỉ uy tín để mua thuốc đông dược là rất quan trọng và cần thiết. Vậy khách hàng có thể mua vị thuốc ÍCH MẪU ở đâu?

ÍCH MẪU là vị thuốc nam quý, được sử dụng rộng rãi trong YHCT. Hiện tại hầu hết các cửa hàng thuốc đông dược, phòng khám đông y, phòng chẩn trị YHCT… đều có bán vị thuốc này. Tuy nhiên người mua nên chọn những địa chỉ có uy tín, đảm bảo chất lượng, có giấy phép hoạt động để mua được vị thuốc đạt chất lượng.

Với mong muốn bệnh nhân được sử dụng những loại dược liệu đúng, chất lượng tốt, Nhà thuốc Đông y An Nhiên Đường không chỉ là đia chỉ khám chữa bệnh tin cậy, uy tín chất lượng mà còn cung cấp cho khách hàng những vị thuốc đông y (thuốc nam, thuốc bắc) đúng, chuẩn, đạt chất lượng cao.

Các vị thuốc có trong tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam đều được nghành y tế kiểm nghiệm đạt chất lượng tiêu chuẩn.

Vị thuốc ÍCH MẪU được bán tại Phòng khám là thuốc đã được bào chế theo Tiêu chuẩn NHT.

Giá bán vị thuốc ÍCH MẪU tại Nhà thuốc Đông y An Nhiên Đường: 50.000vnd/1kg

Tùy theo thời điểm giá bán có thể thay đổi.

+ Khách hàng có thể mua trực tiếp tại địa chỉ phòng khám:

Văn Quán, Hà Đông, Hà Nội

Tag: cay Ich mau, vi thuoc Ich mau, cong dung Ich mau, Hinh anh cay Ich mau, Tac dung Ich mau, Thuoc nam

Annhienduong.com Tổng hợp

*************************

Chó đẻ, tác dụng chữa bệnh của Chó đẻ

Chó đẻ răng cưa

Tên khác

Tên thường gọi: Chó đẻ còn
gọi là Diệp hạ châu, Diệp hòe thái, Lão nha châu, Prak phle.

Tên khoa học: Phyllanthus urinaria L.

Họ khoa học: Thuộc họ
Thầu dầu Euphorbiaceae.

Cây Chó đẻ

(Mô tả, hình ảnh cây Chó đẻ, phân bố, thu hái, chế biến, thành phần hóa học, tác dụng dược lý…)

Mô tả:

Chó đẻ chữa bệnh gan, sốt, mụn nhọt, rắn cắn

Cây chó đẻ răng cưa là một loại cỏ mọc hằng năm, cao
chừng 30cm, thân gần như nhẵn, mọc thẳng đứng, mang cành,
thường có màu đỏ. Lá mọc so le,lưỡng lệ trông như lá kép,
phiến lá thuôn, dài 5-15mm, rộng 2-5mm, đầu nhọn hay hơi tù,
mép nguyên nhưng hơi có răng cưa rất nhỏ, mặt dưới màu xanh
lơ, không cuống hay có cuống rất ngắn. Hoa mọc ở kẽ lá, nhỏ,
màu nâu đỏ, đơn tính, hoa đực, hoa cái cùng gốc, ở đầu cành,
cái ở dưới. Hoa không cuống, hoặc có cuống rất ngắn. Đường
kính quả có thể đạt tới 2mm, treo lủng lẳng dưới lá, do đó
có tên là diệp hạ châu có nghĩa là hạt dưới mặt lá. Hạt 3
cạnh, hình trứng, màu nâu nhạt, có vân ngang.

Phân bố:

Cây chó đẻ răng cưa mọc hoang ở khắp nơi trong nước ta cũng
như ở khắp các vùng nhiệt đới.

Người ta
dùng toàn cây hái về làm thuốc. Mùa hái quanh năm nhưng tốt
nhất vào mùa hạ. Thường dùng tươi có khi phơi khô.

Phân
biệt:

Ngoài ra người ta còn dùng cây Chó đẻ quả
tròn (Phyllanthus niruri Linn) đó là cây thảo mọc hàng năm, nhẵn. Thân
màu hồng nhạt, các cành có góc. Lá thuôn, tù cả gốc lẫn đầu. Lá kèm hình
dùi trong suốt. Cụm hoa ở nách gồm 1 hoa đực và 1 hoa cái hoặc chỉ có
hoa cái. Hoa đực có cuống rất ngắn, đài 5-6 hình bầu dục mũi mác, đĩa
mật gồm những tuyến rất bé, nhị 3. Hoa cái cũng có cuống ngắn, đài 5-6
giống ở hoa đực nhưng rộng hơn một ít, đĩa mật hình đấu có 5 thùy sâu,
các vòi nhụy rất ngắn, rời nhau chẻ đôi ở đầu, bầu hình cầu. Quả nang
hình cầu. Ra hoa từ tháng 1-10. Cây mọc dại trong vườn, gặp khắp nơi
trong nước ta. Kinh nghiệm nhân dân làm thuốc thông tiểu, thông sữa.

Thu
hái, sơ chế:

Thu hái vào mùa hè, rửa sạch phơi nắng
gần khô, đem phơi trong râm rồi cất dùng.

Phần
dùng làm thuốc:

Toàn cây.

 Vị thuốc Diệp hạ châu

( Công dụng, Tính vị, quy kinh, liều dùng …. )

Tính
vị:

Vị hơi đắng ngọt, tính mát

Công
dụng:

Thanh can, minh mục, thấm thấp,
lợi tiểu.

Chủ
trị:

Trị trẻ con cam tích, phù thủng
do viêm thận, nhiễm trùng đường tiểu, sỏi bàng quang, viêm ruột,
tiêu chảy, họng sưng đau.

Liều
dùng:

Dùng khô từ 15-30g, tươi 30-60g.
Sắc uống. Có khi dùng tươi gĩa đắp nơi nhọt, lở

 Ứng dụng lâm sàng của vị thuốc Diệp hạ châu

Chữa bệnh viêm gan B: 

Diệp hạ châu 30g, nhân trần 12g, chi từ 8g, sài hồ 12g, cùng hạ khô thảo 12g, ngày sắc uống một thang.

Chữa viêm gan, viêm ruột tiêu chảy, vàng da:

Diệp hạ châu đắnh 40g, mã đề 20g, cây dành dành 12g, sắc lên rồi dùng.

Chữa bệnh sốt rét:

Cây chó đẻ 8g, dây hà thủ ô, lá cây mãng cầu tươi, thảo quả, thường sơn, dây gớm, mỗi loại lấy 10g, hạt cau, dây cóc, ô mai, mỗi vị lấy 4g sắc với 600ml nước, sau khi sắc xong còn khoảng 200ml nước đem chia làm hai phần, uống trước cơn sốt rét 2h. Nếu dùng mà vẫn chưa hết thì cho thêm sài hổ 10g. 4. Cách sử dụng diệp hạ châu chữa bệnh

Chữa viêm gan siêu vi.

Diệp hạ châu đắng 16g, Nhân trần nam16g, Vỏ bưởi (phơi khô, sao) 4g, Hậu phác 8g, Thổ phục linh 12g.

Nếu cơ thể quá suy nhược có thể gia thêm rễ Đinh lăng 12g, nhiệt nhiều gia thêm Rau má 12g, Hạt dành dành 12g, báng tích nhiều gia Vỏ đại 8g. Sự phối hợp giữa diệp hạ châu, Nhân trần và Thổ phục linh tăng tác dụng giải độc, chống siêu vi. Gia thêm Vỏ bưởi, Hậu phác ấm nóng giúp kiện Tỳ để trung hoà bớt tính mát của Nhân trần và diệp hạ châu khi cần sử dụng lâu dài.

Chữa suy gan do rượu, sốt rét, nhiễm độc do môi trường hoặc các trường hợp hay nổi mẩn, nổi mụn do huyết nhiệt.

Diệp hạ châu đắng 12g, Cam thảo đất 12g. Sắc nước uống hàng ngày thay trà.

Chữa sạn mật, sạn thận

Diệp hạ châu đắng 24g. Sắc uống, sắc làm 2 nước để vừa tận dụng được hoạt chất vừa uống thêm nhiều nước. Nếu đầy bụng, ăn kém gia thêm Gừng sống hoặc Hậu phác. Để ngăn chận sỏi tái phát, thỉnh thoảng nên dùng diệp hạ châu dưới hình thức hãm uống thay trà, liều khoảng 8 đến 10g mỗi ngày.

Cách chữa sốt rét bằng diệp hạ châu

Diệp hạ châu đắng 16g, Thảo quả 12g, Thường sơn 16g, Hạ khô thảo 12g, Binh lang 8g, Đinh lăng 12g. Sắc uống.

Nhân dân rất hay dùng cây chó đẻ răng cưa làm thuốc, giã nát
với muối chữa đinh râu,mụn nhọt. Còn có tác dụng chữa bệnh
gan, chữa sốt, đau mắt, rắn cắn. Ngày uống 20-40g cây tươi,
sao khô sắc đặc mà uống. Dùng ngoài không kể liều lượng.

Tham khảo

Lưu ý:

Diệp hạ châu không có độc tính, độ an toàn cao ngoại trừ một số trường hợp đau cơ, co giật trong khi điều trị sỏi thận hoặc sỏi mật do quá trình tống xuất sỏi. Tuy nhiên, Diệp hạ châu có tính mát có thể gây trệ Tỳ, đầy bụng ở những người có Tỳ Vị hư hàn, dùng liều cao hoặc dùng lâu ngày. Do đó, những trường hợp nầy nên phối hợp với những vị thuốc có tính cay ấm để dung hoà bớt tính mát của Diệp hạ châu.

Gần đây có một số thông tin cho rằng uống Diệp hạ châu có thể gây vô sinh. Điều nầy có lẻ bắt nguồn từ 1 nghiên cứu về tác dụng ngừa thai của Diệp hạ châu trên trên loài chuột của các nhà khoa học trường Đại học Gujaret ở Ấn độ. Kết quả nghiên cứu cho thấy khi cho chuột uống cao toàn thân cây Diệp hạ châu liều 100mg/kg thể trọng đối với chuột cái hoặc 500mg/kg thể trọng đối với chuột đực có thể tạm thời ức chế khả năng sinh sản trong thời gian thí nghiệm 30 ngày (chuột cái) hoặc 45 ngày (chuột đực). Sau khi ngưng uống Diệp hạ châu, khả năng nầy phục hồi bình thường. Điều nầy khác với vô sinh. Hơn nữa chỉ mới là thử nghiệm ban đầu trên loài vật. Tuy nhiên, những người đang muốn có con không nên dùng.

Nơi mua bán vị thuốc Chó đẻ răng cưa đạt chất lượng ở đâu?

Trước thực trạng thuốc đông dược kém chất lượng, nguồn gốc không rõ ràng,… xuất hiện tràn lan trên thị trường, làm ảnh hưởng tới hiệu quả điều trị cũng như ảnh hưởng tới sức khỏe của bệnh nhân. Việc lựa chọn những địa chỉ uy tín để mua thuốc đông dược là rất quan trọng và cần thiết. Vậy khách hàng có thể mua vị thuốc Chó đẻ răng cưa ở đâu?

Chó đẻ răng cưa là vị thuốc nam quý, được sử dụng rộng rãi trong YHCT. Hiện tại hầu hết các cửa hàng thuốc đông dược, phòng khám đông y, phòng chẩn trị YHCT… đều có bán vị thuốc này. Tuy nhiên người mua nên chọn những địa chỉ có uy tín, đảm bảo chất lượng, có giấy phép hoạt động để mua được vị thuốc đạt chất lượng.

Với mong muốn bệnh nhân được sử dụng những loại dược liệu đúng, chất lượng tốt, Nhà thuốc Đông y An Nhiên Đường không chỉ là đia chỉ khám chữa bệnh tin cậy, uy tín chất lượng mà còn cung cấp cho khách hàng những vị thuốc đông y (thuốc nam, thuốc bắc) đúng, chuẩn, đạt chất lượng cao.

Các vị thuốc có trong tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam đều được nghành y tế kiểm nghiệm đạt chất lượng tiêu chuẩn.

Vị thuốc Chó đẻ răng cưa được bán tại Phòng khám là thuốc đã được bào chế theo Tiêu chuẩn NHT.

Giá bán vị thuốc Chó đẻ răng cưa tại Nhà thuốc Đông y An Nhiên Đường: 70.000vnd/1kg

Tùy theo thời điểm giá bán có thể thay đổi.

+ Khách hàng có thể mua trực tiếp tại địa chỉ phòng khám:

Văn Quán, Hà Đông, Hà Nội

Tag: cay cho de rang cua, vi thuoc cho de rang cua, cong dung cho de rang cua, Hinh anh cay cho de rang cua, Tac dung cho de rang cua, Thuoc nam

Annhienduong.com Tổng hợp

*************************

Kha tử, tác dụng chữa bệnh của Kha tử

KHA TỬ

Tên khác

Tên thường gọi: Cây chiêu liêu, Hạt chiêu liêu, Kha lê, Kha lê lặc…

Tên tiếng trung: 诃子

Tên dược: Frutus chebulae.

Tên khoa học: Terminalia chebula

Họ khoa học: Thuộc họ Bàng – Combretaceae.

Cây kha tử

(Mô tả, hình ảnh cây đẳng sâm, phân bố, thu hái, chế biến, thành phần hóa học, tác dụng dược lý…)

Mô tả:

Cây kha tử hay cây chiêu liêu là một cây thuốc quý dạng cây gỗ cao 15 – 20m. Lá mọc đối, cuống ngắn. Hoa mọc ở đầu cành hoặc kẽ lá thành bông, tràng hoa màu trắng, có mùi thơm. Quả hình trứng, 2 đầu nhọn có 5 cạnh dọc. Đường kính 2,5 – 3cm; dài 3 – 5cm. Vỏ màu nâu nhạt. Hạch (hột) cứng chắc, thịt dày (khi khô chỉ còn 2 – 4mm), vị chua chát.

Kha tử là cây ưa sáng khi trưởng thành, nhưng chịu bóng khi non. Kha tử mọc nhiều ở rừng thưa, rừng thứ sinh

Phân bố:

 Phân bố nhiều ở rừng thường xanh, rừng nửa rụng lá và khu vực rừng chuyển tiếp giữa rừng nửa rụng lá và rừng khộp (rừng rụng lá ưu thế cây họ Dầu). Trong nhiều khu rừng chiêu liêu chiếm 2-4% tổ thành cây gỗ lớn. Cây chiêu liêu thường mọc ở các địa hình bằng phẳng ven sông suối, dọc đường đi, chân núi ở độ cao dưới 1.200m, gặp nhiều ở độ cao 300-700m. Ở Ấn Độ, chiêu liêu có thể phân bố đến độ cao 1.500m. Cây chiêu liêu mọc trên cả đất pha sét và đất cát. Cây chiêu liêu chịu lạnh, khô và chịu lửa, do có vỏ dày. Chiêu liêu tái sinh rải rác dưới tán rừng thưa, có độ tàn che 0,3-0,4. Cây chiêu liêu cũng có khả năng tái sinh chồi tốt. Thông thường, chiêu liêu cùng mọc với chiêu liêu đen, chiêu liêu ổi 

Cây kha tử mọc hoang và được trồng ở một số tỉnh miền Nam nước ta. Trên thế giới, cây Chiêu liêu mọc hoang và được trồng ở các nước Đông Nam á (Lào, Campuchia, Thái Lan, Miến Điện), ấn Độ. Trước đây, Trung Quốc phải nhập vị Kha tử ở ấn Độ và Việt Nam, nay đã trồng được ở các tỉnh Vân Nam, Quảng Đông, Quảng Tây.

Thu hái
chế biến:

Hình ảnh kha tử thán

Quả chín thu hái từ tháng 6 đến tháng 8, phơi nắng cho khô. Nên chọn quả già chín phơi khô, vỏ ngoài có màu vàng ngà, thịt chắc là tốt, loại trái non, ốp lép là xấu

Theo kinh nghiệm Viện Đông y Việt Nam: Khi dùng Kha tử rửa sạch, để ráo nước, sao sơ, lúc bốc thuốc thang, giã dập, bỏ hạt dùng

Thành phần hóa học:

Hình ảnh sao kha tử nhục

 Trong thịt quả kha tử có: Tanin 51,3% gồm các axit: galic, egalic, luteolic, chebulinic có tác dụng kháng sinh trị nhiễm khuẩn (vi khuẩn, virus); các chất Chebutin, terchebin có tác dụng chống co thắt cơ trơn (trợ tim, chống ho, chống co thắt dạ dày, ruột…). 

Quả kha tử có khoảng 30% chất làm săn da với các chất đặc trưng là các acid chebulinic, chebulagic; các tanin (20-40%) với các đặc trưng là acid elagic, glucogalin, senosid A(2), các men polyphenol oxidase, tanase, các đường glucose, arabinose, fructose và các acid amin…

Nhân quả chiêu liêu chứa 3-7% chất dầu màu vàng trong suốt, thuộc loại dầu bán khô, trong đó thành phần chủ yếu là các acid palmatic, oleic và linoleic. Một hợp chất có hoạt tính chống ung thư là chebulanin cũng chiết được từ cây chiêu liêu

Tác dụng dược lý

Kha tử nhục sao

Ngày nay, y học hiện đại đã chứng minh tác dụng của Kha tử trong điều trị viêm họng, khản tiếng bằng các nghiên cứu lâm sàng. Trước hết là tác dụng giảm ho, thử nghiệm lâm sàng đã cho thấy hoạt chất Polysaccharid trong Kha tử có khả năng giảm ho rõ rệt. Tác dụng dược lý này của Polysaccharid thậm chí cao hơn so với những chất chống ho mạnh nhất trong thí nghiệm lâm sàng như codein. Cụ thể, sau khi uống chiết xuất Kha tử từ 30, 60, 120, 300 phút, người bệnh đã giảm rõ rệt phản xạ ho ngay từ phút 30.

Không chỉ vậy, theo đơn vị Nghiên cứu nông nghiệp và sinh học, Viện thống kê Ấn Độ năm 2013 nhờ chất Alloyl nên Kha tử sở hữu hoạt tính kháng vi rút. Hoạt chất này đóng vai trò quan trọng đối với sự ức chế các vi rút loại 1 và một số vi rút làm giảm hệ miễn dịch của con người.

Nghiên cứu của các nhà khoa học Slovakia và Ấn Độ trên động vật cũng cho thấy hoạt tính kháng khuẩn trong Kha tử với hàm lượng tamin giàu có (chiếm 24-64%) tổng hợp trong đó là các axit galic, egalic, luteolic, chebulinic. Sự tồn tại của hoạt chất đặc biệt này đã khiến Kha tử trở thành chất kháng sinh tự nhiên, có khả năng diệt khuẩn mạnh mẽ.

Dựa trên hoạt tính dược lý lợi thế đó, con người hiện đại đã không ngừng nghiên cứu, cho ra các chế phẩm Kha tử với tác dụng ức chế in vitro (một phương pháp nghiên cứu trong sinh học thực nghiệm) một số vi khuẩn như trực khuẩn mủ xanh, trực khuẩn bạch hầu, Pseudomonas aeruginosa, Salmonella typhi, tụ cầu vàng và liên cầu khuẩn tán huyết.

Do đó với bệnh viêm họng, khản tiếng có 80% nguyên nhân do từ vi rút (điển hình như virusRhinovirus, coronavirus, parainfluenza virus, virut cúm A, cúm B, Viruts adenovirus, virus Epstein-Barr (EBV), herpes simplex (HPV)) và khoảng 20% còn lại do các vi khuẩn như tụ cầu, liên cầu,… thì sử dụng Kha tử rất hiệu quả.

Vị thuốc Kha tử

(Công dụng, liều dùng, quy kinh, tính vị…)

Tính vị:

Hình ảnh vị thuốc kha tử

Vị đắng, cay, se
và tính ôn.

Qui kinh:

phế và đại tràng.

Công dụng:

Liễm Phế chỉ khái, Sáp tràng chỉ tả

Liều dùng:

Dùng từ 3-10g

Ứng dụng lâm sàng của vị thuốc Kha tử

Ỉa chảy mạn tính, lỵ mạn tính
và sa hậu môn (Trĩ nội)

Chứng nhiệt: Dùng phối
hợp kha tử với hoàng liên và mộc hương dưới dạng kha tử tán.

Hội chứng suy yếu và hàn:
Dùng phối hợp kha tử với can khương và anh túc xác.

Ho và hen do phế hư hoặc ho
mạn tính kèm khàn giọng:

Dùng phối hợp chi tử với cát cánh, cam thảo
và hạnh nhân.

Liều dùng: 3-10 g (dạng
sống để chữa khàn giọng, dạng nướng dùng trị ỉa chảy).

 Trị ho cảm, khan tiếng (viêm họng):

Kha tử 4 quả, Cam thảo 6g, Cát cánh 10g, thêm đồng tiện 150ml, nước 150ml sắc uống. Tác dụng: Tuyên Phế, chỉ khái, lợi hầu, khai âm. (Kha Tử Cam Cát Thang – Cổ Kim Y Thống).

Trị Tâm Tỳ đau hoắc loạn, thổ tả (do lạnh):

Cam thảo, Can khương, Hậu phát, Lương khương, Kha tử, Mạch nha, Phục linh, Thảo quả, Thần khúc, Trần bì. Lượng bằng nhau. Tán bột ngày uống 2 lần mỗi lần 6g. (Kha Tử Tán – Tuyên Minh Luận).

Chữa ho khản tiếng do phế hư:

Kha tử giã dập, bỏ hạt 8g, Cát cánh 10g, Cam thảo 6g. Sắc 3 nước, cô lại còn 200ml chia làm 4 lần uống trong ngày. Dùng thuốc đến khi khỏi.

Trị tiêu chảy (do tỳ khí hư hàn) tiêu phân sống, ruột sôi, bụng đau, thoát giang, trĩ lậu:

Can khương 4g, Cù túc xác 2g, Kha tử 2,8g, Quất hồng 2g. Tán bột ngày uống 2 lần mỗi lần 6g. (Kha Tử Tán – Tỳ Vị Luận).

Chữa ho viêm họng rát họng:

Kha tử 1 – 2 trái rữa sạch lấy phần vỏ nhai ngậm dần nuốt nước. (Kinh Nghiệm Nhân Gian).

Chữa ngộ độc do thức ăn nhiễm khuẩn, ỉa chảy mãn tính, lỵ mãn tính có sốt:

Kha tử nướng chín bỏ hạt 8g, Hoàng liên 5g, Mộc hương 5g làm bột mịn. Chia làm 3 lần uống trong ngày, chiêu với nước sôi để nguội

Trị sâu quảng, vết thương lõm vào:

Giáng hương 4g, Kha tử 20 hạt, Ngũ bội tử 20g, Thanh đại 4g. Tán bột trộn với dầu mè bôi. (Kha Tử Tán – Chứng Trị Chuẩn Thằng).

Thận trọng và chống chỉ định:

Không dùng kha tử cho các trường hợp mắc hội chứng ngoại cảnh và
trong khi tích tụ nhiệt thấp ở trong cơ thể.

Không dùng trong trường hợp táo bón, mới cảm ngoại tà

Tham khảo:

Cách trị ho bằng kha tử:

Khi bị viêm họng hay khi vừa cảm thấy nuốt khó hoặc hơi đau ở họng khi nuốt thì phải trị ngay bằng cách: ngậm 1 quả kha tử, nuốt nước từ từ cho đến khi hết chất chát. Vài giờ sau nếu chưa cảm thấy hết khó chịu thì ngậm 1 quả nữa. Có thể gọt một miếng củ nghệ tươi bằng đầu ngón tay cái để ngậm như kha tử. Thường nên ngậm ngay khi cảm thấy họng nuốt khó, chỉ cần ngậm 1 quả kha tử đã hết viêm họng. Nếu dùng thuốc trễ thì mỗi ngày ngậm 3 quả, ngậm 2 – 3 ngày thì viêm họng, ho khan tiếng, tắt tiếng đều khỏi. Cách khác là với 8g kha tử kết hợp với 6g cam thảo, 10g cát cánh, đem sắc lấy nước uống hàng ngày. Dùng nhiều trong điều trị ho có đờm cho bé: nướng kha tử lên, sau đó thả vào cốc nước nóng có pha chút muối cho bé ngậm, rất hiệu quả.

Ho lâu ngày: dùng kha tử, đảng sâm mỗi vị 4g sắc với 400ml, còn 1/2 chia uống 3 lần. 

Chế độ ăn uống kiêng kị cho bệnh
viêm họng

Nói chuyện với thầy thuốc

Bài thuốc chữa viêm phế quản mãn
tính

Nơi mua bán vị thuốc KHA TỬ đạt chất lượng ở đâu?

Trước thực trạng thuốc đông dược kém chất lượng, nguồn gốc không rõ ràng,… xuất hiện tràn lan trên thị trường, làm ảnh hưởng tới hiệu quả điều trị cũng như ảnh hưởng tới sức khỏe của bệnh nhân. Việc lựa chọn những địa chỉ uy tín để mua thuốc đông dược là rất quan trọng và cần thiết. Vậy khách hàng có thể mua vị thuốc KHA TỬ ở đâu?

KHA TỬ là vị thuốc nam quý, được sử dụng rộng rãi trong YHCT. Hiện tại hầu hết các cửa hàng thuốc đông dược, phòng khám đông y, phòng chẩn trị YHCT… đều có bán vị thuốc này. Tuy nhiên người mua nên chọn những địa chỉ có uy tín, đảm bảo chất lượng, có giấy phép hoạt động để mua được vị thuốc đạt chất lượng.

Với mong muốn bệnh nhân được sử dụng những loại dược liệu đúng, chất lượng tốt, Nhà thuốc Đông y An Nhiên Đường không chỉ là đia chỉ khám chữa bệnh tin cậy, uy tín chất lượng mà còn cung cấp cho khách hàng những vị thuốc đông y (thuốc nam, thuốc bắc) đúng, chuẩn, đạt chất lượng cao.

Các vị thuốc có trong tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam đều được nghành y tế kiểm nghiệm đạt chất lượng tiêu chuẩn.

Vị thuốc KHA TỬ được bán tại Phòng khám là thuốc đã được bào chế theo Tiêu chuẩn NHT.

Giá bán vị thuốc KHA TỬ tại Nhà thuốc Đông y An Nhiên Đường: 90.000vnd/1kg

Tùy theo thời điểm giá bán có thể thay đổi.

+ Khách hàng có thể mua trực tiếp tại địa chỉ phòng khám:

Văn Quán, Hà Đông, Hà Nội

Tag: cay Kha tu, vi thuoc Kha tu, cong dung Kha tu, Hinh anh cay Kha tu, Tac dung Kha tu, Thuoc nam

Annhienduong.com Tổng hợp

*************************