By member of annhienduong.com

Chụp X quang phổi nằm trong các xét nghiệm đầu tiên cần làm đối với bệnh nhân có các triệu chứng và dấu hiệu nghi có viêm phổi. Hình thâm nhiễm không đặc trưng cho nguyên nhân phổi.

1/ Nhận định chung về bệnh viêm phổi

Viêm phổi tiếp tục là vấn đề quan trọng của y tế dù đã có nhiều loại kháng sinh mạnh có tác dụng. Vi sinh vật tới đường hô hấp dưới do hít phải các dịch tiết đường mũi họng có nhiều chủng vi khuẩn, khi hít các thuốc khí dung đã bị nhiễm khuẩn hay do vi khuẩn lan truyền theo đường máu.

Viêm phổi là bệnh gì?

Viêm phổi là nhiễm trùng cấp tính ở một thùy phổi phải hay trái hoặc toàn bộ phổi. Có rất nhiều loại vi sinh vật gây ra viêm phổi.

Phổi nhiễm bệnh làm tiết dịch và để lại các tế bào chết. Điều này làm tắc nghẽn các túi khí nhỏ li ti trong phổi và làm giảm trao đổi oxy. Nếu không có đủ oxy, cơ thể bạn không thể hoạt động bình thường.

Trước đây viêm phổi được xếp làm hai loại “điển hình” (do vi khuẩn) hoặc “không điển hình” (không do vi khuẩn). Viêm phổi do vi khuẩn (ví dụ do phế cầu) có các dấu hiệu đặc trưng như sốt, run, ớn lạnh, đờm mủ, khám thực thể có hội chứng đông đặc phổi, tăng bạch cầu, thâm nhiễm thùy hay thâm nhiễm từng đám trên phim X quang phổi. Viêm phổi không điển hình (ví dụ do Mycoplasma hay Chlamydia pneumonia) đặc trưng bởi các triệu chứng không có gì nổi bật, dấu hiệu thực thể nghèo nàn, đờm không có mủ, bạch cầu không tăng, không có dấu hiệụ đông đặc phổi trên phim X quang.

Ngày nay những điều đó không có bất kỳ giá trị thực tiễn nào vì có sự gối chồng lên nhau các biểu hiện về lâm sàng, xét nghiệm, X quang của các viêm phổi, điều này không làm mất đi sự quan trọng của việc hỏi tiền sử bệnh và khám thực thể cặn kẽ trong chẩn đoán viêm phổi. Thực vậy, cả hai việc đó rất có ích vì cung cấp các chứng cứ để phát hiện nguyên nhân. Với quan điểm thực tiễn ngày, nay người ta hay phân loại viêm phổi thành viêm phổi mắc phải ở cộng đồng và viêm phổi mắc phải ở bệnh viện.

2/ Tiếp cận với người bệnh còn khả năng miễn dịch có thể bị viêm phổi

Chụp X quang phổi nằm trong các xét nghiệm đầu tiên cần làm đối với bệnh nhân có các triệu chứng và dấu hiệu nghi có viêm phổi. Hình thâm nhiễm không đặc trưng cho nguyên nhân phổi. Xây dựng một chẩn đoán nguyên nhân đặc hiệu của viêm phổi thường khó. Trong hầu hết các trường hợp cả viêm phổi mắc phải ở cộng đồng và viêm phổi mắc phải ở bệnh viện, điều trị thường dựa trên kinh nghiệm lấy đờm nhuộm gram và cấy tìm vi khuẩn trong thực tiễn hàng ngày để tìm nguyên nhân viêm phổi thì không có giá trị chứng minh và tốn kém.

Giá trị chủ yếu của xét nghiệm đờm là để loại trừ một số vi sinh vật như trực khuẩn lao, nấm, legionella và pneumocystis carinii bằng soi trực tiếp và nuôi cấy. Như vậy xét nghiệm đờm tìm nguyên nhân nhiễm khuẩn có giá trị dự đoán âm tính hơn là dương tính. Thêm nữa, cấy đờm tìm độ nhạy với kháng sinh có thể giúp phát hiện loại vi khuẩn đề kháng với các kháng sinh đặc biệt nào đó. Cấy đờm một cách thường quy tìm virus gây bệnh thường không làm.

Các thử nghiệm máu thường quy như xét nghiệm điện giải, chức năng gan không có giá trị trong lượng giá đầu tiên của viêm phổi. Đếm hồng bạch cầu chỉ có giá trị phụ. Nó chỉ giúp cho việc xác định bệnh nhân hào nên nằm điều trị tại bệnh viện. Đo khí máu có chỉ định nếu nghi có suy hô hấp. Chẩn đoán huyết thanh không giúp gì cho chẩn đoán viêm phổi lúc ban đầu và thường chỉ làm khi có những lý do về dịch tễ.

Sự quy nạp đờm nên làm nếu xét nghiệm đờm được coi là quan trọng để loại trừ một số vi sinh gây bệnh và nếu người bệnh không khạc ra được đủ lượng đờm làm xét nghiệm. Đầu tiên phải súc miệng bằng nước sạch rồi bệnh nhân phải thở sâu nhiều cái rồi hít vào sâu trước khi ho mạnh. Đồng thời làm vỗ ở phía sau lưng chỗ các thùy dưới của phổi để giúp cho ho khạc được dễ. Cảc kỹ thuật bổ sung gồm vỗ và rung lồng ngực, thở hít khi dùng nước trắng bằng khí dung siêu âm qua một mặt nạ, hít các thuốc giãn phế quản giống thần kinh giao cảm, thở áp lực dương tính gián đoạn (IPPB) và phối hợp tất cả các biện pháp đó.

Khi xét nghiệm đờm khạc ra phải phân biệt các vi khuẩn gây bệnh từ đường hô hấp dưới với các vi khuẩn cư trú ở hầu họng, ví dụ vi khuẩn gram âm và nấm như Candidaalbicans và các chủng Aspergillus tìm thấy khi soi đờm trực tiếp có thể là các loại có sẵn ở hầu họng chứ không phải là do nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới. Nếu không tìm thấy vi khuẩn khi nhuộm gram lúc soi đờm trực tiếp ở bệnh nhân viêm phổi có thể là do phổi bị nhiễm virus, mycoplasma pneumoniae, chlamydia, legionella, vi khuẩn kỵ khí, nấm hay trực khuẩn lao.
Phải nhấn mạnh là chần đoán viêm phổi không thể dựa duy nhất vào các kết qủa cấy đờm bệnh nhân khạc ra,.

Ở các bệnh nhân bị bệnh nên cấy máu trước khi bắt đầu điều trị kháng sinh, nếu cấy máu dương tính, vi sinh gây bệnh được nhận định chắc chắn. Thủ thuật chọc lồng ngực nên làm ở hầu hết các trường hợp nghi viêm phổi do vi khuẩn nếu có tràn dịch màng phổi. Nhuộm gram, soi trực tiếp và nuôi cấy dịch màng phổi có thể phát hiện vi sinh gây nên bệnh. Dịch màng phổi có chẩn đoán đặc trưng của mủ màng phổi hầu hết chỉ định mở màng phổi.

3/ Triệu chứng thường gặp

1. Những dấu hiệu và triệu chứng của bệnh viêm phổi là gì?

Các triệu chứng thường gặp của viêm phổi là:

  • Ho nặng
  • Sốt
  • Ớn lạnh
  • Khó thở
  • Đau ngực tăng khi bạn thở sâu hoặc ho
  • Đau đầu
  • Chán ăn
  • Mệt mỏi
  • Buồn nôn và ói mửa.
Chuẩn đoán bệnh viêm phổi và phương pháp điều trị bệnh viêm phổi
Chuẩn đoán bệnh viêm phổi và phương pháp điều trị bệnh viêm phổi

Bạn có thể gặp các triệu chứng khác không được đề cập. Nếu bạn có bất kỳ thắc mắc nào về các dấu hiệu bệnh, hãy tham khảo ý kiến bác sĩ.

2. Khi nào bạn cần gặp bác sĩ?

Bạn nên liên lạc với bác sĩ nếu bạn có bất cứ dấu hiệu nào sau đây:

  • Sốt dai dẳng kèm lạnh run
  • Đau ngực và khó thở
  • Bạn dùng thuốc cho trẻ nhỏ tuổi (5 tuổi) hoặc người lớn tuổi (65 tuổi)
  • Ho có máu hoặc đờm từ phổi
  • Khó thở, thở nông, thở nhanh và hụt hơi.

Nếu bạn có bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng nêu trên hoặc có bất kỳ câu hỏi nào, xin vui lòng tham khảo ý kiến bác sĩ. Cơ địa mỗi người là khác nhau, vì vậy hãy hỏi ý kiến bác sĩ để lựa chọn được phương án thích hợp nhất.

4/ Phương hướng điều trị bệnh viêm phổi

Điều trị kháng sinh nên bắt đầu sau khi đã hoàn tất chẩn đoán. Hầu hết các trường hợp điều trị kháng sinh lúc đầu chỉ dựa trên kinh nghiệm vì về lâm sàng và soi đờm trực tiếp (nhuộm gram) lúc ban đầu không cho thấy được tác nhân nhiễm khuẩn đặc hiệu gây bệnh.
Nếu thầy thuốc thấy cần phải nhận dạng vi sinh gây bệnh thật chính xác trước khi bắt đầu điều trị kháng sinh thì phải dùng các phương pháp như soi phế quản ống mềm, rửa và chải phế quản phế nang.

1. Những kỹ thuật y tế nào dùng để chẩn đoán bệnh viêm phổi?

Viêm phổi thường có thể bị nhầm lẫn với cảm lạnh hoặc cúm. Tuy nhiên, bạn nên chú ý cẩn thận vì viêm phổi thường kéo dài hơn và các triệu chứng nghiêm trọng hơn các bệnh thông thường khác.

Để xác định xem bạn có bị viêm phổi hay không, bác sĩ sẽ hỏi bạn một số câu hỏi để biết thêm về tình trạng, chẳng hạn như:

  • Các triệu chứng của bạn và mức độ xảy ra như thế nào?
  • Bạn có hút thuốc không?
  • Tiền sử sức khỏe của bạn như thế nào?
  • Bạn có đang uống thuốc không?

Nếu cần, bác sĩ sẽ thực hiện một số xét nghiệm thông thường trước khi đưa ra bất kỳ chẩn đoán nào:

  • Khám thực thể
  • Chụp X-quang ngực
  • Chụp CT
  • Xét nghiệm đờm
  • Nội soi phế quản, được dùng để quan sát đường thở trong phổi.

2. Những phương pháp nào dùng để điều trị bệnh viêm phổi?

Điều trị viêm phổi chủ yếu phụ thuộc vào loại viêm phổi và mức độ nghiêm trọng của bệnh. Đối với một số trường hợp, viêm phổi có thể được điều trị tại nhà.

  • Điều trị viêm phổi do vi khuẩn: tốt nhất bạn nên dùng kháng sinh.
  • Điều trị viêm phổi do virus: một số loại thuốc kháng virus có thể giúp điều trị tình trạng này.