Cảo bản có tác dụng tán phong hàn, trừ thấp.Giải cảm, giảm đau. Dùng chữa nhức đầu, đau đỉnh đầu, đau nửa đầu, do cảm lạnh…

Tên khoa học: Ligusticum sinense.

Nguyên liệu:

Rễ (củ) của cây cảo bản. Củ có nhiều mắt rễ sùi phồng to hình cầu. Củ to bằng ngón tay cái, xù xì giống củ xuyên khung nhỏ, mùi vị giống xuyên khung, đắng, thơm không mốc mọt là tốt.

Thành phần hóa học:

Dược liệu chứa dầu bay hơi, trong đó thành phần chủ yếu là 3 – butylphthalide, Cnidilide. Ngoài ra còn chứa thành phần Alkaloid, Hexadecanoic acid v.v…

Tác dụng:

Theo đông y:

Tính vị – quy kinh: vị cay, tính ôn. Vào kinh bàng quang.

Tác dụng: tán phong hàn, trừ thấp.

Chủ trị – liều dùng: trị mụn nhọt, sang lở, cảm mạo, nhức đầu, đau bụng,

Ngày dùng 3 – 6g.

Theo y học hiện đại:

Dầu trung tính Cảo bổn có tác dụng trấn tỉnh, giảm đau, giải nhiệt và chống viêm, và có thể ức chế ruột và cơ bàng quang tử cung, còn có thể giảm chậm tốc độ hao hụt ô xy rõ rệt, kéo dài thời gian sinh tồn của chuột con, tăng gia khả năng chịu đựng thiếu ô xy của tổ chức, chống thiếu máu cơ tim của chuột lớn do hoocmon tuyến yên gây ra. Chất chiết cồn có tác dụng giáng áp, có tác dụng kháng khuẩn đối với khuẩn nấm gây bệnh ngoài da thường gặp.

Lactone, phthalide trong cảo bản có thể làm cho cơ trơn phế quản động vật thí nghiệm giãn ra, có tác dụng bình suyễn khá rõ rệt.

Lưu ý:

Âm hư hỏa thịnh, không có thực tà và phong hàn thì không nên dùng.

Cách bào chế:

Theo kinh nghiệm Việt Nam:

Cắt bỏ đầu, rửa sạch, thái lát, phơi khô.

Theo Trung y:

Chọn thân rễ vào tháng giêng, tháng hai, phơi trong râm cho khô, sau 30 ngày, khi dùng cắt bỏ đầu, rửa sạch, xắt lát, phơi khô.

Bảo quản: dễ bị mốc mọt, tránh nóng. Bào chế rồi đựng kín.

Bình luận