Bạch biển đậu có tác dụng bổ tỳ, chỉ tả, hóa thấp, giải độc. Dùng chữa ỉa chảy , lỵ, viêm ruột, cảm nắng, ngộ độc rượu, cá nóc…
Tên khoa học: Lablab vulgaris.

Nguyên liệu:

Hạt của cây bạch biển đậu (đậu ván trắng). Quả thường chín vào tháng 9-10 và kéo dài đến mùa đông.
Dùng thứ hạt già, mập, chắc chắn, màu trắng ngà, nhẵn, không mốc mọt, không lép là tốt. Thứ hạt đen không dùng.

Thành phần hóa học:

Trong Bạch biển đậu có Tinh dầu 0,62%, Palmitic acid 8,33%, Linoleic acid 57,95%, Elaidc acid 15,05%, Behenic acid 10,40%, Oleic acid 5,65%,Stearic acid 11,26%, Arachidic acid 0,58%.
Ngoài ra còn có chứa 82,4% nước, 4,5% Protein, 0,1% Lipid, 10% Glucid, 1% chất vô cơ, 0,05% Ca, 0,06% P, 1,67mg Fe, 7,33- 10,26mg Vitamin C,Tryptophan, Arginin, Lysin, Tyrosin.

Tác dụng:

Theo đông y:

Tác dụng: bổ tỳ, chỉ tả, hóa thấp, giải độc.
Chủ trị – liều dùng: thường ngày dùng chữa hoắc loạn do khí nắng, khí thấp, trị thổ tả, phiền khát, giải độc rượu.

Theo y học hiện đại:

Dịch chiết Bạch biển đậu có tác dụng ức chế khuẩn lỵ.
Bạch biển đậu còn có tác dụng chống ngộ độc thức ăn mà sinh ra nôn mửa, dạ dày viêm cấp và ruột viêm cấp tính. Giải độc rượu, trúng độc cá Nóc.

Lưu ý:

Đang bị chứng thương hàn, hoặc có ngoại tà cấm dùng
Trường vị có trệ, không dùng

Cách bào chế:

Theo Trung y:

Lấy hạt bạch biển đậu có vỏ cứng, để nguyên cả vỏ, sao chín dùng, có khi tẩm vào nước sôi cho tróc vỏ, bỏ hết vỏ dùng. Cũng có khi để sống dùng, tùy từng trường hợp.

Theo kinh nghiệm Việt Nam:

– Thường dùng thứ hạt nguyên còn sống, khi bốc thuốc thang thì giã dập.
– Dùng chín: rửa, để ráo nước rồi sao qua cát để khỏi cháy, khi bốc thuốc thang thì giã dập.
Nên dự trữ cả 2 thứ sống và chín.
Bảo quản: dễ mốc mọt nên cần để vào lọ đậy kín, để nơi khô ráo, tránh ẩm.

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here