Bá tử nhân dùng chữa hồi hộp, hoảng hốt (an tâm thần), đau khớp xương, đau lưng, phong thấp, ra mồ hôi, an thần, chữa mất ngủ, đại tiện bí, mồ hôi trộm…
Tên khoa học: Platycladus orientalis.

Nguyên liệu:

Nhân trong của quả cây trắc bá. Hái vào mùa đông phơi khô, hạt có màu vàng nhạt, lớn hơn hạt mè, vị đắng thơm.

Thành phần hóa học:

Trong Bách tử nhân có một số hoạt chất chính: Saponin, Benzine, chất béo.

Tác dụng:

Theo đông y:

Hạt bá tử nhân có Vị ngọt, cay, tính bình. Có tác dụng bổ tâm tỳ, nhuận huyết mạch. Làm thuốc tư dưỡng cường tráng, an thần dưỡng khí, nhuận tràng thông tiện.
Chủ trị: hồi hộp, hoảng hốt (an tâm thần), trị đau khớp xương, đau lưng, trị phong thấp, trị ra mồ hôi; ích khí bổ huyết. Ngoài ta còn cùng trị hư phiền mất ngủ, hồi hộp đánh trống ngực, âm hư, ra mồ hôi trộm, táo bón.

Theo y học hiện đại:

Trong hạt có nhiều chất béo không no có tác dụng nhuận tràng rất tốt.

Lưu ý:

Tiêu chảy, đờm nhiều cấm dùng.
Bá tử nhân kị Cúc hoa, Dương đề thảo.

Cách bào chế:

Theo kinh nghiệm Việt Nam:

Dùng toàn nhân, rửa sạch, phơi khô (thường dùng). Nếu đã để lâu thì sao qua để bỏ dầu.
Muốn tán bột thì phải tán chung với các vị khác để không dính mà dễ tán.

Theo Trung y:

  1. Tẩm rượu một đêm, lấy ra phơi khô, dùng nước cốt hoàng tinh đổ ngập, đun nhỏ lửa mà nấu thành cao.
  2. Lấy hạt trắc bá cho vào chõ đồ chín, phơi khô, giã bỏ vỏ, lấy toàn nhân, sao khô, nghiền nát cho vào thuốc.
  3. Hạt tẩm rượu phơi khô, giã ra, sẩy sạch, lấy nhân sao qua mà dùng.

Bảo quản: để nơi khô ráo, trong khạp, hũ có lót vôi sống; đề phòng mốc, mọt.

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here