Cây gừng -
Trang chủ Sản phẩm cây thuốc đông y Cây thuốc chữa bệnh ngoài da Cây gừng

Cây gừng

270.000

Mô tả

Cây gừng là cây gì?

Tên khoa học: Zingiber officinale Rose, họ Gừng (Zingiberaceae).

Tên khác: Sinh khương (生姜), can khương (干姜), bào khương, Zingiber (Anh), Gingembre, Amome des Indes (Pháp).

cây gừng
cây gừng

Mô tả:

Cây gừng thuốc cây thảo, sống lâu năm, cao 1m. Thân rễ nạc, mọc bò ngang, phân nhiều nhánh.

Lá mọc so le thành hai dãy, hình mác thuôn, thắt lại ở gốc, đầu nhọn, dài 15 -20cm, rộng 2cm, không cuốn, có bẹ nhẵn,lưỡi bẹ nhỏ dạng màng, hai mặt nhẵn, mặt trên màu lục sẫm bóng,mặt dưới nhạt, có gân giữa hơi trắng nhạt khi vò có mùi thơm

Cán hoa dài cỡ 20cm, mang cụm hoa hình bông, dài khoảng 5cm, gồm nhiều hoa mọc sít nhau.

Hoa có tràng hoa màu vàng xanh, có thuỳ gần bằng nhau nhọn.

Cánh môi ngắn hơn các thuỳ của tràng, màu tía với những chấm vàng. Nhị hoa màu tím. Quả mọng.

Cây gừng thường được mọc và trồng ở đâu

Cây gừng là loại cây gia vị cổ điển được trồng ở nhiều nước trong vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, từ Đông Á đến Đông Nam Á và Nam Á. Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản là những nước trồng Gừng nhiều nhất thế giới.

Ở Việt Nam, cây được trồng ở khắp các địa phương, từ vùng núi cao đến đồng bằng và ngoài các hải đảo.

Gừng gồm có mấy loại và cách nhận biết

Gừng trồng trong nhân dân hiên nay cũng có nhiều giống. Loại “gừng trâu” có thân to, củ to thường để làm mứt, có nhiều ở các vùng núi thấp, như Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Cạn, Tuyên Quang…

Loại “gừng gié” có thân và củ đều nhỏ, nhưng rất thơm.

Loài này cũng gồm 2 giống. Giống củ nhỏ có màu hồng tía ở phần củ non, thường được đồng bào dân tộc trồng ở vùng cao, như ở các huyện phía bắc tỉnh Hà Giang; Sìn Hồ (Lai Châu); Sa Pa, Bát Xát (Lào Cai)…

Theo nhân dân địa phương, giống gừng này chịu được khí hậu lạnh kéo dài trong mùa đông. Cây trồng trên nương ít cần chăm sóc.

Còn giống gừng củ nhỏ màu vàng ngà, được trồng phổ biến ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ và ở phía nam.

Các tác dụng chính của cây gừng

Theo Đông y, gừng tươi tác dụng vào các kinh phế, tỳ, vị, thận và đại tràng, có tác dụng làm ấm, chống lạnh, hồi dương, thông lạch.

Có thể dùng gừng để chữa thổ tả, đau bụng, sình bụng, chân tay lạnh, mạch yếu, cảm lạnh, ho, thấp khớp do lạnh…

22 bài thuốc sử dụng cây gừng

1. Chữa trúng phong cấm khẩu

Uống nước sắc kinh giới hoà với nước cốt gừng, nước măng vòi (lấy vòi tre hơ lửa vắt lấy nước cốt) và rượu, các thành phần với liều lượng bằng nhau.

2. Chữa hoắc loạn thổ tả nguy cấp

Gừng sống 7 lát, sắc qua, đun một lúc rồi lấy trầm hương, mộc hương, hạt đậu gió (1 hạt), mài vào. Uống khi còn nóng. Có thể sắc tất cả cùng một lúc, nhưng bít kín cho đỡ bay hơi.

3. Chữa hoàng đản, tiểu tiện không lợi, suyển đầy hoặc bệnh đến giai đoạn nguy cấp

Gừng sống, củ chóc, mỗi vị 320g. Sắc uống làm 2 lần.

4. Chữa trúng hàn thổ tả

Gừng nướng khô tán bột. Uống mỗi lần 12g với cháo.

5. Chữa ỉa ra máu

Gừng sống, ngải cứu với lượng bằng nhau. Sắc uống.

6. Chữa đau ở tim

Gừng khô tán bột 4g, uống với nước cơm.

7. Chữa ho lâu ngày và ợ

Gừng sống giã lấy nước cốt (1 thìa) trộn mật ong (1 thìa). Đun nóng, uống dần ít một.

8. Chữa hen

Nước gừng sống, nước chanh, sữa người, đồng tiện, đều 1 chén. Hâm ấm và uống, cho đến khi khỏi.

9. Chữa mụn ổ gà ở nách

Gừng giã 4g, đinh hương 4 nụ, củ gai 4g, giã nhuyễn thêm ít nước và đắp.

10. Chữa phong hủi

Gừng sống (1280g) giã vắt lấy nước cốt, mật ong (640g). Trộn lẫn, uống với rượu. Ngoài dùng đậu đen và tóc rối đốt thành tro, tán nhỏ mà xát.

11. Chữa bị thương do vật nhọn đâm

Trước tiên lấy cành thị thái nhỏ, nấu nước, lấy lá chuốu bịt miệng nồi, chọc thủng một lỗ để xông. Rồi lấy gừng sống, củ chuối hột, củ ráy, với liều lượng 3 vị bằng nhau, giã nhỏ, trộn đều. Lấy lá ngải cứu gói thuốc lại, đem nướng chín. Lại dùng lá chuối chọc lỗ để trên vết thương và đắp thuốc nóng lên. Hễ nguội thì nướng lại và đắp.

12. Chữa phù khi có mang

Gừng, hạt dành dành. Sao lẫn với hạt cải củ. Rồi bỏ hạt cải, tán nhỏ. Uống với rượu, mỗi lần 8g. Ngày đầu, uống một lần, ngày thứ hai, uống 2 lần, ngày thứ ba,uống ba lần.

13. Chữa sổ mũi

Nước gừng, bột bạch chỉ. Trộn lẫn, bôi vào huyệt thái dương.

14. Chữa nôn oẹ

Nước gừng sống 10ml, sữa bo20ml. Đun nóng uống.

15. Chữa cam tẩu mã

Gừng khô, quả táo ta (đốt tồn tính), phèn chua, với lượng bằng nhau. Tán nhỏ và bôi vào lợi.

16. Chữa phong giản lên kinh

Gừng sống 4 lát, nam tinh(bán hạ củ to) nướng 2 – 3g, tía tô 5 lá. Sắc rồi hòa với một ít mật lợn, uống.

17. Chữa sâu bọ vào tai

Gừng, hành, hẹ, mỗi thứ một ít. Giã lấy nước cốt rỏ vào tai.

18. Chữa nhức đầu, lạnh bụng, nôn oẹ, có đờm

Gừng khô 10g, chích cam thảo 4g, nước 300ml. Sắc còn 100ml, chia nhiều lần uống trong ngày. Nếu thấy đỡ, uống bớt đi.

19. Chữa viêm thận kèm theo phù thũng ở mặt, chân và cổ trướng

Gừng 12,5g, ngũ gia bì 6g, kỷ tử 12,5g, cau (vỏ quả) 10g, phục linh 19g, trạch tả 12,5g. Sắc với 800ml nước, còn 450ml. Chia 3 lần uống trong ngày.

20. Chữ nhiễm độc trong những tháng đầu thai nghén

Gừng 3g, bán hạ 6g, nhân sâm 3g. Sắc với 500ml nước, còn 200 ml. Chia 2 lần uống trong ngày.

21. Chữa lao phổi có kèm theo sốt ở những bệnh nhân bị viêm dạ dày mạn tính, viêm ruột non và viêm ruột kết

Gừng, nhân sâm, hoàng liên, hoàng cầm, mỗi vị 6g. Sắc với 600ml nước, đun sôi trong một giờ. Chia 3 lần uống trong một ngày.

22. Chữa lao phổi ở những giai đoạn đầu

Gừng 10g, cam thảo 4g, nhân sâm 6g, táo chua(quả) 4g. Sắc với 600ml nước, còn 300ml. Chia 3 lần uống nóng trong ngày.

Kiêng kỵ: Âm hư nội nhiệt sinh ho, biểu hư làm ra mồ hôi nhiều hoặc mất máu không nên dùng.