Anh túc sác, tác dụng chữa bệnh của Anh túc sác

ANH TÚC SÁC

Tên
khác

Tên thường dùng: Vị thuốc Anh túc sác còn gọi Cây thuốc
phiện, Phù dung, A tử túc, A phiến, Cù túc xác, Anh tử xác, Giới tử xác, Mễ nang, Mễ xác, Oanh túc
xác, Túc xác
(Hoà Hán Dược Khảo), Mễ xác
(Dị Giản Phương), Ngự mễ xác (Y
Học Khải Nguyên), Yên đầu đầu, Nha phiến yên quả quả (Trung Dược Chí).

Tên tiếng Trung: 虞美人

Tên
khoa học:
Fructus paraveris Deseminatus

Họ khoa học: Thuốc Phiện (Papaveraceae).

Cây anh túc sác

(Mô tả, hình ảnh cây anh túc sác, phân bố, thu hái, thành
phần hóa học, tác dụng dược lý…)

Hình ảnh cây anh túc, anh túc sácMô tả:

Cây anh túc xác là một cây thuốc quý.
Anh túc xác là qủa ( trái) cây A phiến (Thuốc
phiện). Qủa là một nang hình cầu hoặc trụ dài 4~7cm, đường kính 3~6cm,
khi chín có mầu vàng xám, cuống qủa phình to ra, đỉnh qủa còn núm. Trong
qủa chín có nhiều hạt nhỏ hơi giống hình thận, trên mặt có vânhình
mạng mầu xám trắng hoặc xám đen. Khi hái để làm Anh túc xác thường thấy
trên mặt qủa có các vết ngang hoặc dọc tùy theo cách lấy nhựa, mỗi vết
gồm 3~4 đường.

Thu
hái:

Vào tháng 4 -5, lúc trời khô ráo.

Bào
chế anh túc sác

+ Rửa sạch, loại bỏ hết hạt và gân màng , chỉ lấy
vỏ ngoài, xắt mỏng, sấy khô hoặc tẩm mật ong (sao qua) hoặc sao với dấm
cho hơi vàng, tán nhuyễn để dành dùng (Bản Thảo Cương Mục).

+ Lấy nước rửa ướt rồi bỏ tai và gân màng, chỉ lấy
vỏ màng ngoài, phơi trong râm, xắt nhỏ, tẩm dấm, sao hoặc tẩm mật sao (Trung
Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc Dược Điển).

+ Rửa sạch bụi, bỏ hết hột, bỏ tai và gân màng,
chỉ lấy vỏ ngoài, xắt nhỏ, phơi trong râm cho khô để dùng hoặc tẩm mật
sao qua hoặc tẩm giấm sao vàng (Phương Pháp Bào Chế Đông Dược).

Thành
phần hóa học anh túc sác

+Trong Anh túc xác có Morphin, Codein, Thebain,
Narcotin, Narcotolin, Cedoheptulose, DMannoheptulose, Myoinositol,
Erythritol, Sanguinarin, Norsanguinarin, Cholin, Cryptopl, Protopine (Trung
Dược Học).

+Trong Anh túc xác có Narcotoline, Sedoheptulose,
D-Mannoheptulose, Myoinositol, Erythritol, Sanguinarine, Norsanguinarine,
Cryptoplne (Trung Dược Đại Từ Điển)

Tác dụng dược lý anh túc sác

– Tác dụng giảm đau:
Morphin là 1 chất giảm đau rất mạnh. Nó nâng
ngưỡng chịu đau và cũng làm dịu đau. Codein có gía trị giảm đau bằng 1/4
của Morphin.

– Tác dụng thôi miên:
Morphin và Codein đều có tác dụng thôi miênnhưng
chỉgây ngủ nhẹ mà thôi.

– Đối với hệ hô hấp: Morphin là một chất ức chế
mạnh và cao đối với hệ hô hấp. Liều có tác dụng đối với hệ hô hấp nhỏ
hơn là liều giảm đau. Cơ chế của hậu qủa này là do sự cảm nhận thấp của
hệ thần kinh hô hấp đối với mức độ của Carbon Dioxid. Dấu hiệu ức chế hô
hấp bao gồm thở nhanh và thở dốc. Nếu dùng qúa liều hô hấp có thể trở
nên khó khăn và có thểngưng hô hấp. Tác dụng của Codein đối với hệ hô
hấpyếu hơn là Morphin. Morphin cũng ức chế cơn ho với lều nhỏ hơn liều
dùng để giảm đau. Codein có tác dụng long đờm yếu hơn nhưng thường được
dùng nhiều hơn vì ít tác dụng phụ.

– Đối với hệ tuần hoàn: Morphingây ra gĩan mạch
ngoại vi và giải phóng Histamin có thể dẫn đến huyết áp thấp. Vì thế
phải dùng rất cẩn thận đối với bệnh nhân mệt lả do thiếu máu.

– Đối với vết vị trường: Morphin dùng với liều rất
thấp gây ra bón do nó làm tăng trương lựcvà giảm sự thúc đẩy co cơ trong
thành ruột đồng thời làm giảm dịch nội tiết tiêu hóa. Ngoài ra, nó gia
tăng sứs ép trong ống mật. Những hậu qủa này gây ra ói mửa, bụng đau cơn
đau mật. Codein tác dụng yếu hơn đối với vết vị trường.

– Đối với hệ sinh dục niệu: Morphin gia tăng
trương lực nơi đường tiểu và cơ bàng quang.

Vị thuốc anh túc sác

(Công dụng, liều dùng, tính vị, quy kinh…)

Tính vị

+Vị chua, tính sáp (Y Học Khải Nguyên).

+Vị chua, tính sáp, hơi lạnh, không độc (Bản Thảo
Cương Mục).

+Vị chua, tính sáp, bình (Bản Thảo Tùng Tân).

+Vị chua, tính sáp, hơi lạnh, có độc ( Trung Quốc
Dược Học Đại Tự Điển).

+Vị chua, tính bình (Trung Dược Đại Tự Điển).

 Quy
kinh:

+Vào kinh túc quyết âm Can (Đắc Phối Bản Thảo).

+Vào kinh Phế, Đại trường và Thận (Bản Thảo Cầu
Chân).

+Vào kinh Phế, Thận, Đại trường (Trung Dược Đại Từ
Điển).

Tác
dụng, chủ trị:

+ Cố thu chính khí (Y Học Khải Nguyên).

+ Thu liễm Phế khí, chỉ khái, chỉ thấu, cầm không
cho đại trường ra máu, cầm tiêu chảy lâu ngày, cầm xích bạch lỵ (Trấn
Nam Bản Thảo).

+ Cầm tiêu chảy, kiết lỵ, cầm không cho ruột hư
thoát, liễm Phế, sáp trường. Trị Di tinh, ho lâu ngày, tim đau, bụng đau,
các khớp xương đau (Bản Thảo Cương Mục).

+ Nướng mật có tác dụng giảm ho; Nướng dấm có tác
dụng trị lỵ (Bản Kinh Phùng Nguyên).

+ Cố thận. Trị di tinh (Bản Thảo Tùng Tân).

+ Trị lỵ lâu ngày mà suy yếu, ruột xuất huyết,
thoát giang, bụng đau, lưng đau, đới hạ, ho mạn tính, lao phổi, ho ra
máu, suyễn (Hiện Đại Thực Dụng Trung Dược).

Liều dùng: 3~6g dưới dạng thuốc sắc, hoặc tán
thành bột làm hoàn, viên.

Ứng dụng lâm sàng của vị thuốc anh túc sác

Trị ho lâu ngày:

Anh túc xác, bỏ gân, nướng mật,
tán bột. Mỗi lần uống 2g với nước pha mật (Thế Y Đắc Hiệu Phương).

Trị lao,

hen suyễn, ho lâu năm, mồ hôi tự ra:

Anh
túc xác 100g, bỏ đế và màng, sao với giấm, lấy 1 nửa. Ô mai 20g. Tán bột,
mỗi lần uống 8g khi đi ngủ (Tiểu Bách Lao TánTuyên Minh Phương).

Trị thủy tả không cầm:

Anh túc xác 1 cái, Ô mai
nhục, Đại táo nhục đều 10 cái, sắc với 1 chén nước còn 7 phân, uống ấm (Kinh
Nghiệm Phương).

Trị lỵ:

Anh túc xác (bỏ núm trên và dưới, đập
dập, nướng với mật cho hơi đỏ), Hậu phác (bỏ vỏ, ngâm nước cốt gừng 1
đêm, nướng). 2 vị tán thành bột. Mỗi lần dùng 8~12g với nước cơm (Bách
Trung Tán- Bách Nhất Tuyển Phương).

Trị lỵ lâu ngày:

1- Anh túc xác, nướng với dấm, tán bột, trộn với
mật làm hoàn. Ngày uống 6~8g với nước sắc gừng ấm (Bản Thảo Cương Mục).

2- Anh túc xác 400g, bỏ màng, chia làm 3 phần: 1
phần sao với dấm, 1 phần sao với mật, 1 phần để sống. Tán bột, trộn với
mật làm hoàn. Ngày uống 8~12g với nước cơm (Y Học Nhập Môn).

Trị trẻ nhỏ bị xích bạch lỵ:

Anh túc xác 20g,
sao với giấm, tán nhỏ, lấy chảo đồng sao qua. Binh lang,20g,sao đỏ,
nghiền nhỏ. Xích lỵ uống với mật ong, bạch lỵ uống với nang đường (Toàn
Ấu Tâm Giám Phương).

Trị trẻ nhỏ bị thổ tả, không muốn ăn uống, bạch
lỵ:

Anh túc xác (sao), Trần bì (sao), Kha tử (nướng, bỏ hạt), đều 40g
Sa nhân, Chích thảo đều 8g. Tán bột. Ngày uống 8~12g với nước cơm (Anh
Túc Tán – Phổ Tế Phương).

Tham khảo

+ “Anh túc xác có tính thu liễm nên khí đi vào
thận, rất thích hợp chữa bệnh ở xương (Dụng Dược Pháp Tượng).

+ “ Người đời nay bị ho, ho lao thường dùng Anh
túc xác để chữa, bệnh kiết lỵ dùng vị này để cầm lỵ.Công hiệu chữa của
Anh túc xác tuy nhanh nhưnggiết người như gươm, vì vậy, phải cẩn thận.
Lại cho rằng chữa ho không nên ngần ngại dùng Anh túc xác nhưng cần phải
chữa gốc bệnh trước hết, còn Anh túc xác dùng sau cùng. Chữa lỵ cùng vậy,
trước hết phải tán tà, hành trệ, há có thể dùng các thuốc Long cốt, Anh
túc xác gây bế tắc đường ruột, làm cho tà khí được bổ thì bệnh càng nặng
hơn, biến chứng mà kéo dài vậy”(Bản Thảo Diễn Nghĩa Bổ Di).

+ “Vương Thạc [Đức Phu] trong sách ‘Giản Dị Phương’
cho rằng Anh túc xác chữa lỵ công hiệu như thần, nhưng tính nó sáp qúa
khiến người ta bị ói, vì vậy người ta sợ không dám dùng. Nếu dùng dấm và
thêm Ô mai vào thì đúng cách, hoặc dùng chung với bài ‘Tứ Quân Tử Thang’
thì đặc biệt là không làm tắc dạ dầy hoặc gây rối loạn việc ăn uống mà
được công hiệu như thần” (Bản Thảo Cương Mục).

+ “Anh túc xác được Giấm, Ô mai và Trần bì thì
tốt” (Bản Thảo Cương Mục).

Kiêng
kị:

+ Mới bị lỵ hoặc mới ho: không dùng ( Trấn Nam Bản
Thảo).

+ Trẻ nhỏ dưới 3 tuổi: không dùng. Người suy yếu,
chân khí suy mà có thực tà, con gái tuổi dậy thì, người gìa gan và thận
suy: không dùng (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

Nơi mua bán vị thuốc ANH TÚC SÁC đạt chất lượng ở đâu?

Trước thực trạng thuốc đông dược kém chất lượng, nguồn gốc không rõ ràng,… xuất hiện tràn lan trên thị trường, làm ảnh hưởng tới hiệu quả điều trị cũng như ảnh hưởng tới sức khỏe của bệnh nhân. Việc lựa chọn những địa chỉ uy tín để mua thuốc đông dược là rất quan trọng và cần thiết.

Với mong muốn bệnh nhân được sử dụng những loại dược liệu đúng, chất lượng tốt, Nhà thuốc Đông y An Nhiên Đường không chỉ là đia chỉ khám chữa bệnh tin cậy, uy tín chất lượng mà còn cung cấp cho khách hàng những vị thuốc đông y (thuốc nam, thuốc bắc) đúng, chuẩn, đạt chất lượng cao.

Các vị thuốc có trong tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam đều được nghành y tế kiểm nghiệm đạt chất lượng tiêu chuẩn.

Vị thuốc đông y được bán tại Phòng khám là thuốc đã được bào chế theo Tiêu chuẩn NHT.

Giá bán vị thuốc đông y tại Nhà thuốc Đông y An Nhiên Đường:
Gọi 035.2345.848 để biết chi tiết

Tùy theo thời điểm giá bán có thể thay đổi.

Cách thức mua

bán

+ Khách hàng có thể mua trực tiếp tại địa chỉ phòng khám:

Văn Quán, Hà Đông, Hà Nội

Tag: cay an tuc sac, vi thuoc an tuc sac, cong dung an tuc sac, Hinh anh cay an tuc sac, Tac dung an tuc sac, Thuoc nam

Annhienduong.com Tổng hợp

*************************

Khổ sâm rễ, tác dụng chữa bệnh của Khổ sâm rễ

Khổ sâm cho rễ

Tên khác

Tên thường gọi: Khổ sâm
rễ phơi hay sấy khô của cây khổ sâm. Còn
có tên là Dã hòe, Khổ cốt.

Tên tiếng Trung: 苦 參

Tên khoa học: Sophora flavescens.

Họ khoa học: Họ Thầu Dầu (Euphorbiaceae).

Cây Khổ sâm

(Mô tả, hình ảnh cây Khổ sâm, phân bố, thu hái, chế biến, thành phần hóa học, tác dụng dược lý…)

Mô tả:

Cây nhỏ cao 0.5-1.2m. Rễ hình trụ, vỏ ngoài màu vàng, lá kép
lông chim lẻ, mọc so le, gồm 5-10 đôi lá chét. Lá chét hình
mác dài 2-4.5cm, rộng 7-16mm. Hoa mọc thành chùm dài
10-20cm, hoa màu vàng trắng. Quả giáp dài 5-12cm, đường kính
5-8mm, đầu có mỏ dài chứa 3-7 hạt, gần hình cầu, màu đen.

Phân bố:

Được trồng khắp nơi ở Trung Quốc.Vị thuốc này hiện Việt Nam đang phải nhập của Trung Quốc.

Thu Hái, Sơ Chế:

Mùa xuân, thu đào hái về, cắt bỏ đầu rễ và rễ to, rửa sạch đất, phơi khô hoặc cắt thành từng miếng dày độ 0,3 – 1cm, phơi khô là được.

Thành phần hóa học:

Rễ khổ sâm có chứa Luteolin-7-Glucoside (Chinese Hebral Medicine).

Tác Dụng Dược Lý:

Tác Dụng Chống Nấm: nước sắc Khổ sâm trong thực nghiệm có tác dụng kháng 1 số nấm ngoài da (Trung Dược Học).

Tác Dụng Kháng Sinh: Khổ sâm có tác dụng kháng sinh đối với trực khuẩn lỵ đồng thời có tác dụng kháng lỵ amip, làm cho đơn bào co thành kén (Trung Dược Học).

Tác Dụng Đối Với Ký Sinh Trùng Sốt Rét: nước sắc của bài thuốc gồm Khổ sâm và vỏ Bưởi có tác dụng ức chế ký sinh trùng sốt rét mạnh trên động vật thí nghiệm được gây nhiễm sốt rét, nhưngtái phát trong thời gian 10 ngày theo dõi. Trên mô hình thực nghiệm chuột nhắt nhiễm Plasmodium Berghei và gà nhiễm Plasmodium Gallinaceum, Alcaloid chiết xuất từKhổ sâm không thể hiện rõ tác dụng.

Tác dụng lợi niệu: Cho thỏ uống hoặc chích dịch Khổ sâm thấy có tác dụnglợi niệu (Trung Dược Đại Từ Điển).

Tác dụng kháng khuẩn: Nước sắc Khổ sâm có tác dụng ức chế đối với Staphylococus aureus, lỵ trực khuẩn, trùng Amip (Trung Dược Học).

Tác dụng kháng ung thư: Khổ sâm có tác dụng ức chế S180 nơi chuột nhắt. Lâm sàng cho thấy Khổ sâm có hiệu quả nhất định đối với ung thư ở cổ, dạ dày, gan (Trung Dược Học).

Chích dịch Khổ sâm vào thỏ nhà thấy có tác dụng tê liệt trung khu thần kinh, gây nên co giật, ngưng hô hấp và tử vong (Trung Dược Học).

Bài thuốc gồm Khổ sâm và 3 vị thuốc khác dưới dạng nước sắc để rửa âm đạo trong điều trị sa sinh dục, phối hợp với bài thuốc uống và bài thuốc đặt ở âm đạo, đạt kết quả khá tốt (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).

Vị thuốc Khổ sâm

( Công dụng, Tính vị, quy kinh, liều dùng …. )

Tính Vị:

Vị đắng, tính hàn (Bản Kinh).

Không độc (Danh Y Biệt Lục).

Vị rất đắng, tính rất hàn (Bản Thảo Tùng Tân).

Vị đắng, tính hàn (Trung Dược Đại Từ Điển).

Vị đắng, tính hàn, không độc (Trung Quốc Dược Học Đại Tự Điển).

Vị đắng, tính lạnh (Trung Dược Học).

Vị đắng, tính hàn (Đông Dược Học Thiết Yếu).

Quy Kinh:

Vào Thiếu âm Thận(Trân Châu Nang).

Vào kinh Vị, Đại trường, Can, Thận (Lôi Công Bào Chế Dược Tính Giải).

Vào kinh Tâm, Phế, Thận, Đại trường (Bản Thảo Tân Biên).

Vào kinh Can, Thận, Đại trường, Tiểu trường (Trung Dược Đại Từ Điển).

Vào kinh Can, Thận, Đại trường, Tiểu trường (Trung Dược Học).

Vào kinh Tâm, Thận, Tỳ (Đông Dược Học Thiết Yếu).

Công Dụng

Trục thủy, trừ ung thủng, bổ trung, minh mục, chỉ lệ (Bản Kinh).

Dưỡng Can Đởm khí, an ngũ tạng, định chí, ích tinh, lợi cửu khiếu, trừphục nhiệt trường tích, chỉ khát, tỉnh rượu (Danh Y Biệt Lục).

Thanh nhiệt, táo thấp, sát trùng (Trung Dược Đại Từ Điển).

Trừ thấp nhiệt, khứ phong, chỉ dưỡng (Trung Dược Học).

Thanh hỏa, giải độc, sát trùng, khử thấp (Đông Dược Học Thiết Yếu).

Liều Dùng:

6 – 30g.

Kiêng Kỵ:

Tỳ vị hư hàn: không dùng (Trung Dược Đại Từ Điển).

Huyền sâm làm sứ cho nó, kỵ Bối mẫu, Thỏ ty tử; Phản Lê lô (Bản Thảo Kinh Tập Chú).

Uống lâu ngày sẽ làm tổn thường Thận khí, tạng Can (Bản Thảo Kinh Sơ).

Thận hư mà không sốt cao: không nên dùng (Bản Thảo Kinh Sơ).

Người Can Thận hư yếu mà không có chứng nóng: không nên dùng (Trung Quốc Dược Học Đại Tự Điển).

Tỳ Vị hư hàn: không dùng (Trung Dược Học).

Thận hư mà không có thấp nhiệt: không dùng (Đông Dược Học Thiết Yếu).

Ứng dụng lâm sàng của vị thuốc Khổ sâm

Trị Tâm và Phế tích nhiệt, Thận có phong độc tấn công làm cho ngoài da, khủy tay bị ngứa, lở loét, chảy nước vàng:

Khổ sâm 32 lạng, Kinh giới (bỏ cành) 16 lạng. Tán bột. Trộn với nước hồ làm thành viên, to bằng hạt Ngô đồng lớn. Mỗi lần uống 30 viên với nước trà hoặc nước sắc Kinh giới, sau bữa ăn (Khổ Sâm Hoàn – Hòa Tễ Cục phương).

Trị mặt ngứa như kim đâm:

Khổ sâm 640g, Xích thược, Đông qua tử đều 160g, Huyền sâm 80g. Tán bột. Mỗi lần dùng 4g xoa vào mặt (Phổ Tế phương).

Trị bạch điến phong:

Khổ sâm 2,8kg, Lộ phòng phong [ tổ ong] 150g, Thích vị bì 1 cái. Thái thuốc ra thành phiến, nấu với 3 đấu nước còn 1 đấu, bỏ bă, chỉ lấy nước cốt. Cho thêm 5 cân rượu vào, 3 đấu nếp. Nấu thành rượu, mỗi lần uống 1 – 2 ly nhỏ, trước bữa ăn, uống ấm (Bạch Điến Phong Tửu – Thế Y Đắc Hiệu phương).

Trị mộng tinh, Di tinh, hoạt tinh, đới hạ có màu đỏ, đục:

Khổ sâm Mẫu lệ phấn. Tán bột. Lấy 1 dạ dày heo đực, cho 3 chén nước vào hầm thật nhừ, gĩa nát, trộn với thuốc bột làm viên như hạt bắp, uống với rượu ấm(Trư Đỗ Hoàn-Lưu Tùng Thạch Phương).

Trị âm đạo lở ngứa:

Khổ sâm, Phòng phong, Lộ phong phòng, Chích thảo. Lượng bằng nhau, sắc lấy nước rửa (Tẩy Độc Thang – Chứng Trị Chuẩn Thằng).

Trị lỵ ra máu không cầm:

Khổ sâm, sao với Tiêu, tán nhuyễn. Tẩm với nước làm thành viên, to bằng hạt Ngô đồng lớn. mỗi lần uống 15 viên với nước cơm (Nhân Tồn Đường Kinh Nghiệm phương).

Nơi mua bán vị thuốc Khổ sâm cho rễ đạt chất lượng ở đâu?

Trước thực trạng thuốc đông dược kém chất lượng, nguồn gốc không rõ ràng,… xuất hiện tràn lan trên thị trường, làm ảnh hưởng tới hiệu quả điều trị cũng như ảnh hưởng tới sức khỏe của bệnh nhân. Việc lựa chọn những địa chỉ uy tín để mua thuốc đông dược là rất quan trọng và cần thiết. Vậy khách hàng có thể mua vị thuốc Khổ sâm cho rễ ở đâu?

Khổ sâm cho rễ là vị thuốc nam quý, được sử dụng rộng rãi trong YHCT. Hiện tại hầu hết các cửa hàng thuốc đông dược, phòng khám đông y, phòng chẩn trị YHCT… đều có bán vị thuốc này. Tuy nhiên người mua nên chọn những địa chỉ có uy tín, đảm bảo chất lượng, có giấy phép hoạt động để mua được vị thuốc đạt chất lượng.

Với mong muốn bệnh nhân được sử dụng những loại dược liệu đúng, chất lượng tốt, Nhà thuốc Đông y An Nhiên Đường không chỉ là đia chỉ khám chữa bệnh tin cậy, uy tín chất lượng mà còn cung cấp cho khách hàng những vị thuốc đông y (thuốc nam, thuốc bắc) đúng, chuẩn, đạt chất lượng cao.

Các vị thuốc có trong tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam đều được nghành y tế kiểm nghiệm đạt chất lượng tiêu chuẩn.

Vị thuốc Khổ sâm cho rễ được bán tại Phòng khám là thuốc đã được bào chế theo Tiêu chuẩn NHT.

Giá bán vị thuốc Khổ sâm cho rễ tại Nhà thuốc Đông y An Nhiên Đường: Gọi 035.2345.848 để biết chi tiết

Tùy theo thời điểm giá bán có thể thay đổi.

+ Khách hàng có thể mua trực tiếp tại địa chỉ phòng khám:

Văn Quán, Hà Đông, Hà Nội

Tag: cay Kho sam cho re, vi thuoc Kho sam cho re, cong dung Kho sam cho re, Hinh anh cay Kho sam cho re, Tac dung Kho sam cho re, Thuoc nam

Annhienduong.com Tổng hợp

*************************

A ngùy, tác dụng chữa bệnh của A ngùy

A NGÙY

Tên khác

Tên khác : A ngu, Ẩn triển, Cáp tích nê, Hình ngu (Bản Thảo Cương Mục),
A ngu tiệt, Ngùy khứ tật (Hòa Hán Dược Khảo), Huân cừ (Đường Bản
Thảo), Ngũ thái ngùy (Trung Dược Chí), Xú a ngùy (Tân Cương Trung
Thảo Dược Thủ Sách).

Tên tiếng Trung: 阿魏

Tên khoa học : Ferula Assafoetida L.

Họ khoa học: Họ Hoa Tán (Umbelliferae).

Cây a ngùy

(Mô tả, hình ảnh cây a ngùy, phân bố, thu hái, thành phần hóa học, tác dụng
dược lý…)

Mô tả

Hình ảnh cây a ngùy, a ngùyCây a ngùy là một cây thuốc quý, dạng cây thảo sống lâu năm, cao từ 0,6 – 1m,
cuống lá dẹp bao thân cây, lá chẻ, hoa nhỏ mầu vàng. Dược liệu thường dùng là
khối mủ ngưng kết lại có hình dạng lớn nhỏ không đều. Mầu tím nâu hoặc nâu sậm,
có khi mầu trắng , vàng . Cứng nhưng khi bóp thì mềm, dính. Có mùi hôi.

Khi sử dụng, chọn loại mầu tím nâu, lâu ngày không bay mầu là tốt.

Loại mầu nâu sậm có lẫn với phiến rễ và cát là loại hàng thứ phẩm.

Phân bố, thu hái:

Cây a ngùy trồng và sản xuất chính ở Ba Tư và Trung quốc. Vị thuốc này tại Việt
Nam chưa trồng được, còn phải nhập.

Thu Hái: Theo ‘Trung Dược Đại Tự Điển”  thu hái vào những tháng mùa Đông,
trước khi ra hoa. Khi lấy mủ, dùng dao rạch thành rãnh ở vỏ cây, phần trên gốc,
lấy lá lớn đậy lại. Mấy ngày sau thì mủ chảy ra và ngưng kết lại, cách khoảng 10
ngày sau lại làm như vậy để thu mủ rồi để dành dùng.

Bộ phận dùng làm thuốc

 Dùng nhựa cây ở phần rễ sau khi nhựa ngưng kết lại (Assafoetida).

Mô tả dược liệu:

Hình khối méo mó, đông cứng như mỡ hoặc dính liền nhau. Mầu đậm nhạt không đều.
Mặt ngoài thường mầu nâu vàng hoặc nâu hồng. Chất cứng hoặc hơi mềm mà dính, hơ
nóng thì mềm ra. Thứ tươi mới cắt ra mầu tương đối nhạt, có thể thấy mầu sữa
trắng xen lẫn mầu nâu nhạt hoặc nâu hồng, gọi là ‘Ngũ Thái A Ngùy’. Có mùi hôi
lâu tan, vị hơi cay, đắng (Dược Tài Học).

Loại tinh sạch, mùi nồng, lâu ngày
không tan ra, chỗ cắt mầu trắng sữa là tốt. Nếu thành từng khối to màu nâu xám,
lẫn tạp chất ở trong là kém.

Bào Chế :

+ Lấy thứ tốt, không có tạp chất, cắt
nhỏ, bỏ vào bát nhám mà nghiền hoặc thêm lẫn với thuốc khác mà nghiền thì dễ nhỏ.

+ Hoà tan A ngùy trong cồn 60 độ nóng,
lọc, ép qua vải thưa, loại tạp chất, đến khi cho vào nước nghiền ra không dính
tay là được, đun cách thuỷ cho rượu bay còn lại A ngùy.

+ Khi dùng nghiền bột, cho thêm vào một
ít Hạnh nhân hoặc Đào nhân thì dễ nghiền nhỏ (Lôi Công Bào Chích Luận).

Bảo quản :

+ Vì thuốc có mùi hôi nồng, cần để trong hộp thiếc kín, để riêng xa các vị thuốc
khác cho khỏi lây mùi.

+ Nên để nơi mát, tránh nóng nếu không sẽ bay mất mùi tinh dầu.

Thành phần hóa học:

+ Trong A ngùy có 10 – 17% chất dầu , 40 – 46 % chất nhựa, 25% chất keo, 1,5 –
10% chất tro và 60% các chất vô cơ, 45% Sec Butyl Profenyl Disulfide, Acid
Ferulic, Farnesiferol và Umbelliferon (Những Cây Thuốc Và Vị Thuốc Việt Nam).

+ Farnesiferon A, B, C (Caglioti L và cộng sự, C A 1960, 54 : 616g).

+ Badrakemin, Coladonin Koladonin, Samarcandin acetate, Polyanthinin, Kamdonol,
Gummosin Hofer O và cộng sự (Monatsh Chem 1984, 115 (10) : 1207).

+ Assafoetidin, Ferocolicin (Banerji A và cộng sự, C A 1988, 109 : 51717r).

Tác dụng dược lý:

+ Trong loại Asafetida có mùi hôi, vị đắng mà cay, ảnh hưởng đến trường vị và hệ
hô hấp (Những Cây Thuốc Và Vị Thuốc Việt Nam).

+ Có thể dùng trong các toa thuốc khu phong.

+ Ức chế độ cứng của hạch : Nước sắc A ngùy đắp bên ngoài có thể thấm vào các
hạch cứng làm cho hạch mềm ra (Trung Dược Đại Từ Điển).

+ Ngừa giun : Dùng chung với Lưu Hoàng ( Sulfur ), Binh lang ( Areca Catechu L.)
và Nhục quế (Cinnamomum Sp.) đổ vào bao tử chuột nhắt có thể làm cho chuột ít
mắc phải giun móc ( Ankylostome) (Trung Dược Đại Từ Điển).

+ Sử dụng liều cao đến 12g vẫn không thấy ngộ độc (Trung Dược Dược Lý, Độc Lý Dữ
Lâm Sàng).

+ Tác dụng chống đông máu : Tiêm nước sắc A ngùy 10% vào tĩnh mạch chuột cống và
chó với liều 2,5-10ml/kg thấy có khả kéo dài thời gian đông máu, bình quân
35-56%. Thí nghiệm trong ống nghiệm thấy thời gian ngưng kết huyết tương là
28-41% (Trung Dược Dược Lý, Độc Lý Dữ Lâm Sàng).

+ Tác dụng kháng bức xạ, tăng bạch cầu, tiểu cầu : A ngùy có tác dụng trị liệu
hoặc ngăn ngừa nhiễm phóng xạ cấp, có khả năng nâng cao hoạt xuất của chuột lên
( 30%. Đối với chó bị nhiễm phóng xạ cấp, A ngùy có khả năng giữ được hoạt suất
42,9% (Trung dược dược lý, độc lý dữ lâm sàng).

+ Đối với chuột nhắt, A ngùy có tác dụng hoạt huyết, đối với thỏ nhỏ bị trúng
độc cấp, thấy có tác dụng làm tăng bạch hoặc tiểu cầu. Thực nghiệm chứng minh
rằng A ngùy dùng uống với liều 0,6mg/kg kết hợp với tiêm tĩnh mạch chuột cống
liều 100mg/kg hoặc 200mg/kg thấy có tác dụng ức chế ADP ( ngưng kết tiểu cầu).
Lâm sàng trị chứng bạch cầu suy mỗi ngày dùng 30mg, tỉ lệ đạt 76,6%, cao nhất
đạt 93,3% (Trung Dược Đại Từ Điển).

+ Tác dụng chống ung thư : dùng hợp chất JTc – Z6 thấy có tác dụng ức chế ung
thư phát triển, tỉ lệ đạt 90% trở lên (Trung Dược Dược Lý, Độc Lý Dữ Lâm Sàng).

+ Tác dụng giảm đau, chống co giật : A ngùy có tác dụng với thần kinh, làm mềm
gân cơ, chống co giật (Trung Dược Dược Lý, Độc Lý Dữ Lâm Sàng).

+ Độc tính : Liều độc LD50 là 125 ( 75mg/kg. Liều dùng chích là 1520mg/kg, liều
uống là 3155mg/kg (Trung Dược Dược Lý, Độc Lý Dữ Lâm Sàng).

+ Thử nghiệm trên 48 con chó và 26 con thỏ bị ngộ độc A ngùy cấp tính, thấy chức
năng gan và điện tâm đồ bị xáo trộn (Trung Dược Dược Lý, Độc Lý Dữ Lâm Sàng).

Vị thuốc a ngùy

(Công dụng, liều dùng, tính vị, quy kinh…)


Tính vị:

Vị cay, tính ôn, không độc,
mùi hôi nồng.

+ Vị cay, bình , không độc (Đường Bản Thảo).

+ Vị cay, ấm (Hải Dược Bản Thảo).

+ Vị nóng (Nhật Hoa Tử Bản Thảo)

+ Vị đắng, cay, tính nhiệt, có độc (Bản Thảo Chính).

+ Vị đắng, cay, tính ấm (Trung Dược Đại Từ Điển).

Quy Kinh:

+Vào kinh Vị (Lôi Công Bào Chế Dược Tính Giải).

+ Vào kinh túc Thái âm Tỳ, túc dương minh Vị (Bản Thảo Kinh Sơ).

+ Vào kinh Tỳ, Vị, Đại trường (Bản Thảo Tân Biên).

+ Vào kinh túc Thái âm Tỳø, túc Quyết âm Can (Ngọc Quyết Dược Giải) .

+Vào kinh Can, Tỳ và Vị (Trung Dược Đại Từ Điển).

+ Vào kinh Tỳ và Vị ( Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc Dược Điển).

Công dụng

Tiêu tích, sát trùng, giải
độc, trừ đờm, kích thích thần kinh, trừ mùi hôi thối, tống hơi độc ra. Trị tích,
báng, sốt rét, cam tích, đau bụng, đau tim.

Tác dụng chủ trị :

+ Trị các loại giun, trừ mùi hôi, phá báng tích, hạ ác khí ( Đường Bản Thảo).

+ Trị các chứng ác khí ( Thiên Kim Dực phương ).

+ Trị tim và giữa bụng lạnh ( Hải Dược Bản Thảo ).

+ Trị chứng thi quyết ( cơ thể lạnh như xác chết), phá báng tích, khí lạnh, bụng
trướng, sốt rét, hoắc loạn, tim và bụng đau , thận khí, ôn chướng ( Nhật Hoa Tử
Bản Thảo).

+ Giải độc khi ăn phải các loại thịt trâu, dê hoặc ngựa chết ( Bản Thảo Hối Biên).

+ Cắt cơn sốt rét, chỉ ( cầm ) lỵ, giải độc, tan mùi hôi( Bản Thảo Thông Huyền
).

+ Tiêu tích, sát trùng, giải độc, tán buổi, tán hàn, khử đờm, kháng bức xạ,
kháng ung thư, tăng bạch cầu, chống đông máu, trị Tâm giảo thống (Trung Dược
Dược Lý, Độc Lý Dữ Lâm Sàng).

+ Trị thần kinh suy nhược, phế quản viêm mạn ( Tân Cương Trung Thảo Dược Thủ
Sách) .

+ Trị tích báng , trùng tích, nhục tích, tim và bụng đau do hàn, sốt rét, kiết
lỵ (Trung Dược Đại Từ Điển).

Liều dùng:

Dùng 0,12 – 2g chung với thuốc hoàn hoặc tán hoặc chế thành thuốc cao hoặc nấu
thành cao bôi ngoài da.

Ứng dụng lâm sàng của vị thuốc a ngùy

 Trị Khí tích, nhục tích, ngực bụng đầy trướng, đau hoặc đau lan ra 2 bên
hông sườn, không muốn ăn uống:

 Mộc hương 20g, Binh lang 20g, Hồ tiêu 10g, A ngùy 20g ( chế với giấm) .
Làm hoàn, ngày uống 8 -12g với nước sắc vỏ Gừng sống (A Ngùy Hoàn – Phổ Tế
phương)

Trị trẻ nhỏ bị thực tích, bụng to như bụng ếch, bụng đau, tiểu đục:

A ngùy ( tẩm giấm 1 đêm ) 20g, Hoàng liên (sao) 20g, Hoa kiềm (tán nhuyễn) 12g,
Sơn tra nhục 40g, Liên kiều 60g, Bán hạ ( tẩm nước Tạo giác 1 đêm ) 40g. Tất cả
tán bột, trộn với nước hồ Thần khúc làm hoàn. Ngày uống 12 – 16g với nước cơm,
lúc đói (A Ngùy Hoàn – Y Học Cương Mục).

Trị tích tụ, bỉ khối, thực ẩm, khí huyết tích tụ lại:

A ngùy, Sơn tra nhục, Nam tinh, Bán hạ, Thần khúc, Hoàng liên, La bặc tử, Liên
kiều, Bối mẫu, Qua lâu, Phong hoa tiêu, Thạch hàm, Hồ hoàng liên , Bạch giới tử.
Tán bột, tẩm nước Gừng, nấu chín bánh làm thành viên, mỗi lần uống 8g với nước
nóng. Sau khi uống thuốc, ăn vài trái Hồ đào. Người suy yếu không được dùng bài
này (A Ngùy Hoàn – Vệ Sinh Bảo Giám ).

Trị tích tụ, bỉ khối, thực ẩm, khí huyết tích tụ lại:

A ngùy 20g, Bạch giới tử 100g, Bạch truật 120g, Tam lăng 80g, Nga truật 80g. Sao
khô, tán bột. Lấy A ngùy chưng với rượu cho chảy ra, hòa thuốc bột trên làm
thành hoàn. Ngày uống 12 – 16g với rượu (A Ngùy Hoàn – Hà Nhật Trung Thủ Tập)

Trị Tỳ Tích:

A ngùy 2g , Kê tử hoàng ï5 trái, Hoàng lạp ( nến ) 40g. Nấu chung, chia làm 10
lần uống lúc đói. Uống sau 10 ngày đi tiêu ra máu đó là tích tụ đã tan. (Bảo Thọ
Đường Kinh Nghiệm phương)

Trị tích khối:

A ngùy, Nhũ hương, Một dược, Mang tiêu đều 80g. Tán bột. Đại hoàng 80g, Bạch
giới tử 120g, Mộc miết tử 21 hột ( bỏ vỏ ), Xuyên sơn giáp 60g, Nhục quế 60g,
Độc hoạt 60g, Loạn phác ( tóc ) 80g. Dùng dầu mè 1.600g nấu cho đến khi thấy dầu
có sắc đen, bốc hết mùi thì cho thuốc bột và Hoàng đơn vào nấu đặc thành cao,
dùng để bôi ngoài da (Hà Nhật Trung Thủ Tập).

Trị nhục tích, bỉ khối, ăn không tiêu:

Nhân sâm, Quất hồng, Tam lăng, Nga truật, Sa nhân . Nấu, thêm Xạ hương, Lưu
hoàng, Tô hợp thành cao, dùng để bôi ( Trung Quốc Y Học Đại Từ Điển ).

Trị sốt rét:

Yên chi, A ngùy đều 1 cục to, tán bột. Dùng nước cốt của Tỏi trộn đều sền sệt
thành cao, bôi lên mặt hột Đào. Khi lên cơn sốt rét, đem thuốc dán vào vùng hổ
khẩu tay, nam bên trái, nữ bên phải. Cơn sốt yên thì bỏ thuốc đi ( Ách Hổ Cao –
Phổ Tế phương).

Trị sốt rét có báng:

A ngùy, Xuyên khung, Bạch truật, Xích phục linh, Hồng hoa, Miết giáp tiêm ( sao
với váng sữa cho dòn ), Đại hoàng, bột Kiều mạch. Tán bột, uống với rượu. Sau
khi uống 3 ngày , thấy bụng đau, máu mủ chảy ra là hiệu nghiệm(A Ngùy Hóa Bỉ Tán
– Trương Thị Y Thông ).

Trị bụng đau:

A ngùy nghiền nhỏ uống 4 – 8g với rượu nóng (Vĩnh Loại Kiềm phương).

Trị bụng đau:

A ngùy, nghiền nhỏ. Dùng nửa củ tỏi to bọc thuốc, nướng chín, nghiền nhỏ, làm
hoàn. Ngày uống 2 – 4g với nước sắc Ngải diệp ( Tổng Vi Luận phương)

Tham khảo:

“A ngùy rất hôi, người Di (còn gọi là A ) rất sợ A ngùy. Dân Ba tư gọi là A ngu,
dân Thiên trúc gọi là Hình ngu, kinh Niết bàn gọi là Ương quỷ, dân Mông cổ gọi
là Cáp tích nê. Thời nhà Nguyên dùng nó để điều hòa thức ăn. Rễ của nó gọi là
Aån triển vì tàng dưới đất mà phát triển …” (Y Học Cương Mục).

“A ngùy mọc nơi Tây phiên và Côn lôn, mầm lá, rễ và thân giống Bạch chỉ, giã nát
rễ lấy nước nấu thành bánh là loại thượng hạng, cắt rễ phơi khô là loại thứ phẩm
.Mùi của nó rất hôi mà lại trừ được các mùi hôi khác , thật là vật phẩm kỳ lạ “(Đường
Bản Thảo).

“Đạo Bà la môn nói rằng Huân cừ tức là A ngùy, lấy nước cốt từ rễ phơi khô như
keo hoặc cắt lấy rễ phơi khô, và mùi nó rất hôi. Người Ấn độ ăn chay không dùng
A ngùy. A ngùy dùng ăn thường thì trừ được mùi hôi. Người Nhung rất coi trọng
việc này” (Tân Tu Bản Thảo Đồ Kinh ).

A ngùy là loại thuốc hóa bỉ, đọa thai, sát trùng … khí của nó cay mà hôi, khí
vị có mùi cỏ dại nhưng không làm tổn thương vị khí quá, cho nên các phương thuốc
cần dùng không thể bỏ quên được “( Bản Thảo Hối Ngôn).

Sách ‘Bách Nhất Tuyển Phương’ ghi :”Trị sốt rét đã nửa năm, dùng Chân A ngùy,
Đơn sa (loại tốt), mỗi thứ 40g. Tán bột, trộn với nước cơn làm hoàn, to bằng hạt
Bồ kết. Lúc đói, uống 1 hoàn với nước sắc Nhân sâm thì khỏi” ( Y Học Cương Mục).

Tịnh Tiêu Nham nói rằng A ngùy vị cay, tính bình , nhập vào kinh Tỳ, Vị, tiêu
nhục tích, sát trùng, khử mùi hôi. Gốc từ nước Tây phiên , do mủ cây nấu thành,
khí vị rất hôi. Lấy thử 1 ít, để trong đồ dùng bằng đồng một đêm, nơi chạm phải
A ngùy sẽ trắng như Thủy ngân, đó là thứ thật. Người đời nay thường làm giả bằng
Hồ toán bạch, người dùng không thể không cẩn thận “ (Trung Quốc Dược Học Đại Từ
Điển ).

Dù các vị thuốc có vị hôi cũng không bằng vị thuốc này. Mùi thơm là chính khí
của trời đất, mùi hôi là ác khí của trời đất. Những mùi thơm hoặc hôi qua đều có
tính luồn lách, thẩm thấu , đều có thể phá được tích tụ. Vì vậy, có thể xử dụng
vị thuốc này phá được tích tụ, bỉ khối và sát trùng “ (Đông Dược Học Thiết Yếu).

Kiêng kỵ :

+ Người Tỳ Vị hư yếu không dùng (Bản Thảo Kinh Sơ).

+ Uống nhiều A ngùy sẽ làm mất khí, hoa mắt (Y Lâm Toản Yếu).

+ Người Tỳ Vị hư yếu, ăn ít, ăn vào lập tức nôn dữ dội, tiêu chảy, cơ thể gầy
yếu : không dùng (Bản Thảo Cầu Chân).

+ Người Tỳ Vị suy yếu, phụ nữ có thai không nên dùng (Trung Dược Đại Từ Điển).

+ “Vì A ngùy có mùi rất hôi, người Tỳ Vị suy yếu ngửi thấy là muốn nôn ngay” (Đông
Dược Học Thiết Yếu).

+ Có thai không dùng (Trung Dược Dược Lý, Độc Lý Dữ Lâm Sàng).

Nơi mua bán vị thuốc A NGÙY đạt chất lượng ở đâu?

Trước thực trạng thuốc đông dược kém chất lượng, nguồn gốc không rõ ràng,… xuất hiện tràn lan trên thị trường, làm ảnh hưởng tới hiệu quả điều trị cũng như ảnh hưởng tới sức khỏe của bệnh nhân. Việc lựa chọn những địa chỉ uy tín để mua thuốc đông dược là rất quan trọng và cần thiết. Vậy khách hàng có thể mua vị thuốc A NGÙY ở đâu?

A NGÙY là vị thuốc nam quý, được sử dụng rộng rãi trong YHCT. Hiện tại hầu hết các cửa hàng thuốc đông dược, phòng khám đông y, phòng chẩn trị YHCT… đều có bán vị thuốc này. Tuy nhiên người mua nên chọn những địa chỉ có uy tín, đảm bảo chất lượng, có giấy phép hoạt động để mua được vị thuốc đạt chất lượng.

Với mong muốn bệnh nhân được sử dụng những loại dược liệu đúng, chất lượng tốt, Nhà thuốc Đông y An Nhiên Đường không chỉ là đia chỉ khám chữa bệnh tin cậy, uy tín chất lượng mà còn cung cấp cho khách hàng những vị thuốc đông y (thuốc nam, thuốc bắc) đúng, chuẩn, đạt chất lượng cao.

Các vị thuốc có trong tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam đều được nghành y tế kiểm nghiệm đạt chất lượng tiêu chuẩn.

Vị thuốc A NGÙY được bán tại Phòng khám là thuốc đã được bào chế theo Tiêu chuẩn NHT

Giá bán vị thuốc A NGÙY tại Nhà thuốc Đông y An Nhiên Đường: Gọi 035.2345.848 để biết chi tiết

Tùy theo thời điểm giá bán có thể thay đổi.

Cách thức mua

bán

+ Khách hàng có thể mua trực tiếp tại địa chỉ phòng khám:

Văn Quán, Hà Đông, Hà Nội

Tag: cay a nguy, vi thuoc a nguy, cong dung a nguy, Hinh anh cay a nguy, Tac dung a nguy, Thuoc nam

Annhienduong.com Tổng hợp

*************************

Hạt sen, tác dụng chữa bệnh của Hạt sen

Hạt sẻn

Tên khác:

Tên thường gọi: Hạt sẻn hay
Hoa tiêu là quả phơi hay sấy khô của cây Sưng hay cây Hoàng
lực
. Còn
gọi Hoa tiêu thích, Sơn hồ tiêu thích, Ba tiêu,
Dã hoa tiêu, Lưỡng diện châm, Lưỡng phù
chắm
, Xuyên tiêu.

Tên khoa học: Zanthoxylum nitidum DC.

Họ khoa học: Thuộc họ Cam
– Rutaceae.

Cây Sưng (Hoàng lực)

(Mô tả, hình ảnh cây Sưng, phân bố, thu hái, chế biến, thành phần hóa học, tác dụng dược lý…)

Mô tả:

Cây Hoàng lựcCây bụi, leo, có gai. Cành vươn dài. Lá kép lông chim lẻ,
mọc so le, gồm 5 lá chét nguyên. Hai mặt lá đều có gai ở
chân, nhất là gân chính và cuống lá. Cụm hoa hình chùm mọc ở
kẽ lá. Hoa trắng nhỏ, đơn tính. Quả có 1 – 5 mảnh vỏ, mỗi
mảnh đựng một hạt màu đen bóng.

Phân bố:

Mọc hoang khắp nơi ở nước ta, nhiều nhất tại các tỉnh miền núi như Phú Thọ, Lào Cai, Yên Bái, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Tĩnh, Nghệ An, Hòa Bình, Hà Tây. Còn mọc ở Trung Quốc.

Thu hái

Đến mùa thu, quả chín, hái cả cành về, cắt lấy quả phơi khô. Khi nhấm quả thấy vị đắng, nóng và thơm. Bề ngoài vị thuốc trông rất đặc biệt: Quả tách thành 3 mảnh cứng, trong mỗi mảnh có một hạt đen bóng, cứng. Nhấm hạt có mùi thơm như chanh.

Bộ phận
dùng:

Rễ và quả. Rễ thu hái quanh năm. Quả hái khi còn
xanh. Phơi hoặc sấy khô.

Thành phần
hóa học:

Vỏ cành và rễ chứa alcaloid nitidin, không bền
vững dễ chuyển thành dihydronitidin và oxynitidin. Vỏ rễ
chứa flavon, glucosid diosmin. Hạt có tinh dầu chứa linalol.

Vị thuốc Hạt sẻn

(Công dụng, liều dùng, quy kinh, tính vị…)

Hạt sẻnTính vị:

Vị cay, tính ôn, có độc

Quy kinh:

Vào 3 kinh phế, tỳ và thận.

Công dụng:

Có tác dụng tán hàn, trục thấp, ôn trung, trợ hỏa, sát hồi trùng. Chữa bụng lạnh đau, thổ tả, tẩy giun.

Ứng dụng lâm sàng của Hạt sẻn

Chữa ho, đau bụng, nôn mửa,
ỉa chảy, nhức răng, tê bại, Thấp khớp, giun đũa

Quả kích thích tiêu hoa,
Chữa ho, đau bụng, nôn mửa,
ỉa chảy, nhức răng, tê bại, Thấp khớp, giun đũa : Ngày 3 –
5g dạng sắc, bột.

Chữa sốt, sốt rét, Thấp khớp

Rễ chữa sốt, sốt rét, Thấp khớp : Ngày 6 –
12g dạng sắc, ngâm rượu.

Chữa Đau răng

Quả dùng ngoài, chữa Đau răng : Sắc
hoặc ngâm rượu ngậm, và chữa rắn cắn, giã nát bôi.

Chữa sốt, thuốc ra mồ hôi, thuốc sốt rét kinh niên, thuốc tê thấp

Nhân dân ta còn dùng rễ cây này với tên hoàng lực hay rễ cây Sưng hay Huỳnh lực làm thuốc chữa sốt, thuốc ra mồ hôi, thuốc sốt rét kinh niên, thuốc tê thấp. Ngày dùng 4-8g dưới dạng thuốc sắc hay ngâm rượu.

Nơi mua bán vị thuốc Hạt sẻn đạt chất lượng ở đâu?

Trước thực trạng thuốc đông dược kém chất lượng, nguồn gốc không rõ ràng,… xuất hiện tràn lan trên thị trường, làm ảnh hưởng tới hiệu quả điều trị cũng như ảnh hưởng tới sức khỏe của bệnh nhân. Việc lựa chọn những địa chỉ uy tín để mua thuốc đông dược là rất quan trọng và cần thiết. Vậy khách hàng có thể mua vị thuốc Hạt sẻn ở đâu?

Hạt sẻn là vị thuốc nam quý, được sử dụng rộng rãi trong YHCT. Hiện tại hầu hết các cửa hàng thuốc đông dược, phòng khám đông y, phòng chẩn trị YHCT… đều có bán vị thuốc này. Tuy nhiên người mua nên chọn những địa chỉ có uy tín, đảm bảo chất lượng, có giấy phép hoạt động để mua được vị thuốc đạt chất lượng.

Với mong muốn bệnh nhân được sử dụng những loại dược liệu đúng, chất lượng tốt, Nhà thuốc Đông y An Nhiên Đường không chỉ là đia chỉ khám chữa bệnh tin cậy, uy tín chất lượng mà còn cung cấp cho khách hàng những vị thuốc đông y (thuốc nam, thuốc bắc) đúng, chuẩn, đạt chất lượng cao.

Các vị thuốc có trong tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam đều được nghành y tế kiểm nghiệm đạt chất lượng tiêu chuẩn.

Vị thuốc Hạt sẻn được bán tại Phòng khám là thuốc đã được bào chế theo Tiêu chuẩn NHT.

Giá bán vị thuốc Hạt sẻn tại Nhà thuốc Đông y An Nhiên Đường: 400.000vnd/1kg

Tùy theo thời điểm giá bán có thể thay đổi.

+ Khách hàng có thể mua trực tiếp tại địa chỉ phòng khám:

Văn Quán, Hà Đông, Hà Nội

Tag: cay Hat sen, vi thuoc Hat sen, cong dung Hat sen, Hinh anh cay Hat sen, Tac dung Hat sen, Thuoc nam

Annhienduong.com Tổng hợp

*************************

Long nhãn nhục, tác dụng chữa bệnh của Long nhãn nhục

LONG NHÃN NHỤC

Tên
khác:

Tên thường gọi:
Vị thuốc Long nhãn nhục còn gọi Ích Trí
(Thần Nông Bản Thảo), Long Mục (Ngô Phổ
Bản Thảo), Á Lệ Chi (Khai Bảo Bản Thảo), Qủy Nhãn, Viên Nhãn (Tục Danh), Lệ Nô,
Mộc Đạn
(Bản Thảo Đồ Kinh), Lệ Chi Nô, Quế Viên Nhục, Nguyên Nhục, Mật Tỳ, Tế Lệ
Ích Trí, Yến Noãn, Ly Châu, Giai Lệ, Lệ Thảo, Lệ Duyên, Tỷ Mục, Khôi Viên, Lệ
Châu Nô, Long Nhãn Cẩm, Hải Châu, Hải Châu Tùng, Long Nhãn Cân
(Hòa Hán Dược
Khảo).Long nhãn nhục, vị thuốc long nhãn, nhãn nhục

Tên
khoa học:
Euphoria longana Lamk.

Họ khoa học: Họ Bồ Hòn (Sapindaceae).

Cây nhãn

( Mô tả, hình ảnh long nhãn, thu hái, chế biến, thành phần hoá học, tác dụng
dược lý
….)

Mô tả

Nhãn được biết đến là loại cây ăn quả đồng thời cũng là một cây thuốc quý.
Cây cao 5-7m. Lá mọc so le, kép, hình lông chim,
gồm 5-9 lá chét, nguyên, hẹp, dày, cứng, dài 7-20cm, rộng 2,5-5cm. Ra hoa vào
tháng 2-3, màu vàng nhạt, mọc từng chùm ở đầu cành hoặckẽ lá. Hoa gồm 5 lá đài,
5 cánh rời nhau, 6-10 nhụy, bầu 2-3 ô. Quả hành tròn, vỏ ngoài ráp, màu vàng nâu,
bên trong có cùi mọng nướcngọt (áo hạt), giữa có hạt đen bóng Trồng nhiều ở
khắp nơi.

Thu hái, chế biến:

Vào tháng 6-8, khi Nhãn chín
thì hái về.

Bộ
phận dùng làm thuốc

Cùi của quả.

Bào
chế long nhãn

Chọn loại Nhãn lồng đã chín, cùi dày, ráo
nước, đem phơi nắng to hoặcsấy nhẹ ở nhiệt độ 40-500C đến khi lắc quả có tiếng
kêu lóc cóc, mang ra, bóc vỏ lấy cùi rồi sấy ở nhiệt độ 50-600C tới độ ẩm dưới
18%, cầm không dính tay là được.

Long nhãn đã chế biến rồi nhưng sợ để lâu có
nhiễm trùng, nên đem chưng cách thủy độ 3 giờ, sấy gần khô. Nếu dùng làm thuốc
hoàn thì gĩa nát với bột thuốc khác hoặcnấu nhừ lấy nướcđặc, bỏ bã, cô đặc
lẫn với mật mà luyện thuốc hoàn.

Bảo
quản:

Đóng gói trong các thùng kín, để nơi khô mát.

Thành
phần hóa học:

+ Trong Long nhãn có: Adenine, Choline,
Glucose, Sucrose (Trung Dược Học).

+ Trong Long nhãn có: Sacaroza, Glucoza,
Protein, Acid Tatric, Chất béo, Sinh tố A,B. Các men Amylaza, Peroxitdaza. Hạt
nhãn có Saponin, Chất béo (Dược Liệu Việt Nam).

+ Cùi nhãn tươi có: Nước77,15%, Tro 0,01%,
Chất béo 0,13%, Protid 1,47%, hợp chất có Nitrogen tan trong nước20,55%,
Saccacrose 12,25%, Vitamin A, B. Cùi nhãn khô có nước0,85%, Chất tan trong
nước79,77%, Chất không tan trong nước19,39%, Tro 3,36%. Trong phần tan trong
nướccó Glucose 26,91%, Sacarose 0,22%, Acid tartric1,26%, Chất có Nitrogen
6,309%. Hạt nhãn chứa tinh bột, Saponin, Chất béo và Tanin. Lá chứa Quercetrin,
Quercetin, Tanin (Tự Điển Cây Thuốc Việt Nam).

+ Stigmasterol, Fucosterol (Hsu Hong Ling và
cộng sự, Hua Hsueh 1977, (4): 103 – C A, 1980, 92: 377761z).

Tác
dụng dược lý:

+Tác dụng chống nấm: nước ngâm Long nhãn,
trong ống nghiệm có tác dụng ức chế đối với nha bào của nấm (Trung Dược Học).

+ Tác dụng kháng phóng xạ: Long nhãn nhục hợp
với Cáp giới (Mỗi 1ml thuốc có Long nhãn nhục 1g, Cáp giới 0,5g), cho chuột uống
theo liều 20ml/kg, liên tục 10 ngày, thấy có tác dụng tăng sức đề kháng; Uống
liều 15ml/kg liên tục 14 ngày huyết áp trở lại trạng thái bình thường; Uống
15ml/kg liên tục 10 ngày, thấy chuột tươi tỉnh, khỏe mạnh; Uống 20ml/kg liên tục
7 ngày thấy trọng lượng chuột tăng (Trung Quốc Trung Dược Tạp Chí 1989, 14 (6):
365).

Vị thuốc long nhãn nhục

(Công dụng, tính vị, quy kinh, liều dùng …. )

Tính
vị:

+Vị ngọt, tính bình (Bản Kinh).

+Vị ngọt, chua (Tân Tu Bản Thảo).

+Vị ngọt, tính ôn (Bản Thảo Hối Ngôn).

+Vị ngọt, tính ấm (Trung Dược Học).

Quy
kinh:

+Vào kinh Tỳ, Tâm (Bản Thảo Kinh Sơ).

+Vào kinh Can, Tâm, Tỳ (Dược Phẩm Hóa Nghĩa).

+Vào kinh Tâm, Thận (Bản Thảo Tái Tân).

+Vào kinh Tâm, Tỳ (Trung Dược Học).

Người bị phù thũng: Long
nhãn khô, Sinh khương, Đại táo, sắc uống(Tuyền Châu Bản Thảo).

Công dụng:

+Khử độc (Danh Y Biệt Lục).

+Dưỡng huyết, an thần, ích trí, liễm hãn, khai
Vị, ích Tỳ (Trấn Nam Bản Thảo).

+Đại bổ âm huyết (Dược Phẩm Hóa Nghĩa).

+Bổ Tâm, Tỳ, dưỡng huyết, an thần (Trung Dược
Học).

Chủ
trị:

+ Chủ trị ngũ tạng tà khí,chán ăn, uống lâu
ngày làm khỏe trí não, thông minh (Bản Kinh).

+ Trị lo nghĩ quá mức, lao thương Tâm Tỳ, hay
quên, hồi hộp, hư phiền, mất ngủ, tự ra mồ hôi, giật mình lo sợ, các chứng suy
nhược (Trung Dược Học).

Kiêng
kỵ:

+ Có đờm hỏa hoặcthấp ở Trung tiêu: không
dùng (Trung Dược Học).

+ Bên ngoài bị cảm, bên trong có uất hỏa, đầy
bụng, ăn uống đình trệ: không dùng (Đông Dược Học Thiết Yếu).

Liều dùng: 12-20g/ ngày.

Ứng dụng lâm sàng của vị thuốc long nhãn nhục

Trị
mất ngủ, hồi hộp, hay quên:

Hoàng kỳ 12g,
Bạch truật 12g, Đảng Sâm 12g, Đương qui 8g, Phục thần 12g, Long nhãn nhục 12g,
Toan táo nhân 12g, Mộc hương 4g (cho sau), Viễn chí 6g, Chích thảo 4g, sắc nước
uống (có thể cho thêm Gừng tươi và Đại táo) (Quy Tỳ Thang – Tế Sinh Phương).

Ôn bổ Tỳ Vị, trợ tinh thần:

Long nhãn nhục,
nhiều ít tùy dùng, ngâm rượu 100 ngày, mỗi ngày uống (Long Nhãn Tửu – Vạn Thị
Gia Sao).

Trị Tỳ hư, tiêu chảy:

Long nhãn khô 14 trái,
Sinh khương 3 lát, sắc uống(Tuyền Châu Bản Thảo).

Tham
khảo:

+ Quế viên… đại bổ âm huyết… Dùng trong bài Quy
Tỳ Thang cùng với Liên nhục, Khiếm thực để bổ Tỳ âm, làm cho Tỳ vượng để thống
huyết, quy kinh. Nếu thần chí mỏi mệt, Tâm kinh thiếu huyết, dùng làm thuốc trợ
lực cho Sinh địa, Mạch môn để bổ dưỡng âm huyết. Nếu gân xương mỏi yếu, dùng làm
thuốc trợ lực cho Thục địa, Đương quy để tư bổ Can huyết (Dược Phẩm Hóa Nghĩa).

+ “Ngoài việc dùng trong các phương thang ra,
phép ăn Long nhãn thì phải giữ cho khí hòa, Tâm tĩnh, đồng thời phải thấm nướcbọt nuốt dần vào cổ họng, là phương phápđem Khảm Thủy điềnthay Ly Hỏa. Người
có chứng lao thì khuyên họ ăn thường xuyên 1 tháng sẽ khỏi bệnh, đây là phép bí
truyền của kẻ tu hành. Cách ăn Long nhãn như sau: Canh năm, không dùng nước, ăn
1 quả Long nhãn, dùng lưỡi đưa lên răng mà lấy cùi, bỏ hột, tức là phép ‘Thiệt
lãm hoa trì’, rồi sẽ nhằn cho cùi thành cao, hòa với nướcbọt nuốt ực xuống
mạnh như nuốt vật cứng, xong rồi lại làm như thế mà ăn quả thứ 2. Ăn tất cả 9
quả, chừng 1 giờ thì xong. Đến giờ Thìn, giờ Tỵ lại ăn 9 quả; khi đi ngủ lại ăn
9 quả. Trong 1 ngàyăn tất cả 4 lần” (Dược Phẩm Vậng Yếu).

+ “Long nhãn nhục, uống nhiều thì mạnh chí,
thông minh, dùng lâu thì nhẹ mình, trẻ lâu. Trong thang Quy Tỳ, Long nhãn có
công dụng ngang với Nhân sâm, vì Tỳ được bồi bổ thì trung khí đầy đủ, nguồn sinh
hóa không kiệt, 5 Tạng đều thỏa mãn thì trăm tà đều tiêu hết. Vả lại vị ngọt thì
nuôi được huyết, bổ cho Tâm mà làm mạnh thần” (Dược Phẩm Vậng Yếu).

+ “Long nhãn dùng trong bài Quy Tỳ Thang, cùng
với Liên nhục, Khiếm thực để bổ Tỳ âm, làm cho Tỳ vượng, thống huyết, quy kinh.
Nếu thần chí mệt mỏi, Tâm kinh huyết thiếu, dùng làm thuốc trợ lực cho Sinh địa,
Mạch môn để bổ dưỡng Tâm huyết. Trường hợp gân cốt mệt mỏi, dùng làm thuốc trợ
lực cho Thục địa, Đương quy để tư âm, bổ Can huyết” (Trung Dược Học).

+ “Long nhãn vị ngọt, thể nhuận, màu đỏ tía,
chẳng những bổ khí của Tỳ Vị mà còn tư âm huyết bất túc, không có dính nhờn của
Thục địa, ủng tắc khí của Đại táo, là vị thuốc rất tốt về ích khí, bổ huyết. Cho
nên trong bài Quy Tỳ Thang, dùng Long nhãn để chữa Tâm Tỳ bị tổn thương. Người
gìa yếu sau khi ốm, Tỳ khí hư nhược, chỉ dùng 1 vị này đun lên lấy nướcuống
thay trà rất hay. Nếu dùng để ăn thì lấy quả Vải làm quý, nếu dùng để tu bổ thì
lấy quả Nhãn là tốt” (Đông Dược Học Thiết Yếu).

+ “Long nhãn nhục và Tang thầm đều là những vị
thuốc tốt để tư bổ, cả 2 đều có công dụng bổ huyết, ích hư. Tuy nhiên, Tang thầm
có tác dụng bổ huyết, tư âm. Thiên về tư bổ Can, Thận, tính của nó hay tức phong,
lợi thủy. Chữa Can, Thận âm huyết không đủ thường dùng vị thuốc này. Còn Long
nhãn nhục, bổ huyết, ích khí, công dụng thiên về bổ Tâm, Tỳ, an thần, dưỡng
huyết. Chữa Tâm khí huyết bất túc phải dùng đến vị này (Trung Dược Lâm Sàng Giám
Dụng Chỉ Mê).

 

Nơi mua bán vị thuốc LONG NHÃN NHỤC đạt chất lượng ở đâu?

Trước thực trạng thuốc đông dược kém chất lượng, nguồn gốc không rõ ràng,… xuất hiện tràn lan trên thị trường, làm ảnh hưởng tới hiệu quả điều trị cũng như ảnh hưởng tới sức khỏe của bệnh nhân. Việc lựa chọn những địa chỉ uy tín để mua thuốc đông dược là rất quan trọng và cần thiết. Vậy khách hàng có thể mua vị thuốc LONG NHÃN NHỤC ở đâu?

LONG NHÃN NHỤC là vị thuốc nam quý, được sử dụng rộng rãi trong YHCT. Hiện tại hầu hết các cửa hàng thuốc đông dược, phòng khám đông y, phòng chẩn trị YHCT… đều có bán vị thuốc này. Tuy nhiên người mua nên chọn những địa chỉ có uy tín, đảm bảo chất lượng, có giấy phép hoạt động để mua được vị thuốc đạt chất lượng.

Với mong muốn bệnh nhân được sử dụng những loại dược liệu đúng, chất lượng tốt, Nhà thuốc Đông y An Nhiên Đường không chỉ là đia chỉ khám chữa bệnh tin cậy, uy tín chất lượng mà còn cung cấp cho khách hàng những vị thuốc đông y (thuốc nam, thuốc bắc) đúng, chuẩn, đạt chất lượng cao.

Các vị thuốc có trong tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam đều được nghành y tế kiểm nghiệm đạt chất lượng tiêu chuẩn.

Vị thuốc LONG NHÃN NHỤC được bán tại Phòng khám là thuốc đã được bào chế theo Tiêu chuẩn NHT.

Giá bán vị thuốc LONG NHÃN NHỤC tại Nhà thuốc Đông y An Nhiên Đường: 340.000vnd/1kg

Tùy theo thời điểm giá bán có thể thay đổi.

+ Khách hàng có thể mua trực tiếp tại địa chỉ phòng khám:

Văn Quán, Hà Đông, Hà Nội

Tag: cay LONG NHAN NHUC, vi thuoc LONG NHAN NHUC, cong dung LONG NHAN NHUC, Hinh anh cay LONG NHAN NHUC, Tac dung LONG NHAN NHUC, Thuoc nam

Annhienduong.com Tổng hợp

*************************

Cam thảo nam, tác dụng chữa bệnh của Cam thảo nam

Cam thảo nam

Tên khác

Tên thường gọi: Còn có tên
dã cam thảo, thổ cam thảo, giả cam thảo.

Tên khoa
học
Seoparia dulics L.

Họ khoa học: Thuộc họ
Hoa mõm chó Scrophulariaceae. Cam thảo nam là toàn cây
tươi hoặc phơi khô sấy khô của cây cam thảo nam.

 Cây Cam thảo nam

( Mô tả, hình ảnh, thu hái, chế biến, thành phần hoá học, tác
dụng dược lý
….)

Mô tả:

Cây thảo mọc thẳng đứng, cao 30-80cm, có thân nhẵn hoá gỗ ở gốc và rễ to hình trụ. Lá đơn mọc đối hay mọc vòng ba lá một, phiến lá hình mác hay hình trứng có ít răng cưa ở nửa trên, không lông. Hoa nhỏ, màu trắng, mọc riêng lẻ hay trứng có ít răng cưa ở nửa trên, không lông. Hoa nhỏ, màu trắng, mọc riêng lẻ hay 7.

Bộ phận dùng:

Toàn cây (Herba Scopariae dulcis)

Phân bố:

Loài liên nhiệt đới mọc khắp nơi ở đất hoang ven các đường đi, bờ ruộng.

Thu hái:

Vào mùa xuân hè, thu hái toàn cây rửa sạch, thái nhỏ dùng tươi hoặc phơi hay sấy khô để dùng dần.

Bào chế:

Loại bỏ tạp chất, cắt đoạn, vi sao.

Tác dụng dược lý:

Amellin trong cây là một chất chống bệnh đái đường, dùng uống làm giảm đường – huyết và các triệu chứng của bệnh đái đường và tăng hồng cầu. Nó cüng ngăn cản sự tiêu hao mô và dẫn đến sự tiêu thụ tốt hơn protein trong chế độ ăn, làm giảm mỡ trong mô mỡ và thúc đẩy quá trình hàn liền vết thương.

Thành phần hóa học:

Cây chứa một alcaloid và một chất đắng; còn có nhiều acid silicic và một hoạt chất gọi là amellin. Phần cây trên mặt đất chứa một chất dầu sền sệt, mà trong thành phần có dulciol, scopariol, (+) manitol, glucose. Rễ chứa (+) manitol, tanin, alcaloid, một hợp chất triterpen. Vỏ rễ chứa hexcoxinol, bsitosterol và (+) manitol.

 Vị thuốc Cam thảo nam

( Công dụng, Tính vị, quy kinh, liều dùng …. )

Công dụng:

Kiện tỳ, nhuận phế, thanh nhiệt, giải độc và lợi tiểu.

Cách dùng, liều lượng:

Ngày dùng 8-12g khô hoặc 20-40g tươi sắc uống.

 Ứng dụng lâm sàng của vị thuốc Cam thảo nam

Lỵ trực trùng:

Cam thảo đất, Rau má, lá Rau muống, Địa liền, mỗi vị 30g, sắc uống .

Cảm cúm, nóng ho:

Cam thảo đất tươi 30g, Diếp cá 15g, Bạc hà 9g, sắc uống. Có thể phối hợp với Rau má, Cỏ tranh, Sài hồ nam, Mạn kinh, Kim ngân, Kinh giới.

Mụn nhọt:

Cam thảo đất 20 g, kim ngân hoa 20 g, sài đất 20 g. Sắc uống ngày một thang.

Dị ứng, mề đay:

Cam thảo đất 15 g, k đầu ngựa 20 g, kim ngân hoa 20 g, lá mã đề 10 g. Sắc uống ngày một thang.

Sốt phát ban:

Cam thảo đất 15 g, cỏ nhọ nồi 15 g, sài đất 15 g, củ sắn dây 20 g, lá trắc bá 12 g. Sắc uống ngày một thang.

Tiểu tiện không lợi:

Cam thảo đất 15 g, hạt mã đề 12 g, râu ngô 12 g. Sắc uống ngày một thang.

Ho:

Cam thảo đất 15 g, lá bồng bồng 10 g, vỏ rễ cây dâu 15 g. Sắc uống ngày một thang.

Lỵ:

Cam thảo đất 15 g, lá mơ lông 15 g, cỏ seo gà 20 g. Sắc uống ngày một thang.

Nơi mua bán vị thuốc Cam thảo nam đạt chất lượng ở đâu?

Trước thực trạng thuốc đông dược kém chất lượng, nguồn gốc không rõ ràng,… xuất hiện tràn lan trên thị trường, làm ảnh hưởng tới hiệu quả điều trị cũng như ảnh hưởng tới sức khỏe của bệnh nhân. Việc lựa chọn những địa chỉ uy tín để mua thuốc đông dược là rất quan trọng và cần thiết. Vậy khách hàng có thể mua vị thuốc Cam thảo nam ở đâu?

Cam thảo nam là vị thuốc nam quý, được sử dụng rộng rãi trong YHCT. Hiện tại hầu hết các cửa hàng thuốc đông dược, phòng khám đông y, phòng chẩn trị YHCT… đều có bán vị thuốc này. Tuy nhiên người mua nên chọn những địa chỉ có uy tín, đảm bảo chất lượng, có giấy phép hoạt động để mua được vị thuốc đạt chất lượng.

Với mong muốn bệnh nhân được sử dụng những loại dược liệu đúng, chất lượng tốt, Nhà thuốc Đông y An Nhiên Đường không chỉ là đia chỉ khám chữa bệnh tin cậy, uy tín chất lượng mà còn cung cấp cho khách hàng những vị thuốc đông y (thuốc nam, thuốc bắc) đúng, chuẩn, đạt chất lượng cao.

Các vị thuốc có trong tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam đều được nghành y tế kiểm nghiệm đạt chất lượng tiêu chuẩn.

Vị thuốc Cam thảo nam được bán tại Phòng khám là thuốc đã được bào chế Tiêu chuẩn NHT.

Giá bán vị thuốc Cam thảo nam tại Nhà thuốc Đông y An Nhiên Đường: Gọi 035.2345.848 để biết chi tiết

Tùy theo thời điểm giá bán có thể thay đổi.

+ Khách hàng có thể mua trực tiếp tại địa chỉ phòng khám:

Văn Quán, Hà Đông, Hà Nội

Tag: cay cam thao nam, vi thuoc cam thao nam, cong dung cam thao nam, Hinh anh cay cam thao nam, Tac dung cam thao nam, Thuoc nam

Annhienduong.com Tổng hợp

*************************

A giao, tác dụng chữa bệnh của A giao

A GIAO

Tên Khác:

Tên thường gọi:
Vị thuốc A giao còn gọi A giao nhân,
A tỉnh giao, A tỉnh lư bì giao,
Bồ
hoàng sao A giao
(Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển), Bì giao,
Bồn giao,
Hiển minh bả, Ô giao,
Phó tri giao, Phú bồn giao
(Hòa Hán Dược Khảo), Cáp sao a giao, Châu a giao,
Hắc lư bì giao, Sao a giao,
Sao a giao châu,
Thanh a giao, Thượng a giao,
Trần a giao
(Đông Dược học Thiết Yếu), Lư
bì giao
(Thiên Kim).

Tên tiếng Trung: 阿胶

Tên Khoa Học: Colta Asini, Gelantinum Asini, Gelantina Nigra.

Họ khoa học:  họ Ngựa (Equidae).

Con lừa

(Mô tả, hình ảnh con lừa, chế biến, thành phần hóa học, tác dụng
dược lý…)

Mô tả

Hình ảnh con lừa, vị thuốc a giaoLừa
thuộc ngành động vật có xương sống (Vertebrata), lớp có vú ( Mammalia),
bộ Guốc lẻ ( Perissdactyla), thuộc họ ngựa (Equidae). Tổ tiên hoang dã
của lừa là lừa hoang châu Phi (E. africanus). Lừa đã được sử dụng như
một con vật làm việc ít nhất từ 5.000 năm trước. Hiện có hơn 40 triệu
con lừa trên thế giới, chủ yếu là tại các quốc gia kém phát triển, nơi
chúng được sử dụng chủ yếu như con vật để kéo và thồ vật. Lừa làm thường
gắn liền với những người sống bằng hoặc thấp hơn mức độ tự cung tự cấp.
Một số lượng nhỏ lừa được giữ nuôi sinh sản, như vật nuôi tại các nước
phát triển. Ở một số nước lừa được thuần hóa và sử dụng để làm sức kéo.

Mô Tả dược liệu

Hình ảnh vị thuốc a giao

A giao là keo chế từ da con lừa (EquusAsinus L.). Thường A giao được làm dưới dạng miếng keo hình chữ nhật,
dài 6cm, rộng 4cm, dầy 0,5cm, mầu nâu đen, bóng, nhẵn và cứng. Khi trời
nóng thì mềm, dẻo, trời khô thì dòn, dễ vỡ, trời ẩm thì hơi mềm. Mỗi
miếng nặng khoảng 20g. vết cắt nhẵn, mầu nâu đen hoặc đen, bóng, dính (Dược
Tài Học).

Bào chế a giao

Hình ảnh tân a giao

a – Theo
Trung Quốc.

* Chọn loại da già, dầy, lông đen. Vào mùa đông -xuân (khoảng tháng 2 -3 hàng năm, lấy da lừa ngâm vào nước 2-5 ngày cho
mềm ra rồi cạo lông, cắt thành từng miếng mỏng (để nấu cho dễ tan) . Nấu
3 ngày 3 đêm, lấy nước cũ ra, thay nước mới, làm như vậy 5-6 lần để lấy
hết chất keo của da lừa. Lọc qua rây bằng đồng có lỗ nhỏ rồi khuấy với
nướclọc có ít phèn chua, chờ vài giờ sau cho các tạp chất lắng xuống,
gạn lấy 1 lớp nướctrong ở trên và cô đặc lại. Trước khi lấy ra chừng 2
giờ thì thêm đường và rượu vào(cứ 600g da lừa thêm 4 lít rượu và 9kg
đường), nửa giờ trước khi lấy ra lại thêm dầu đậu nành cho đỡ dính
(600kg thêm 1kg dầu). Đổ ra,để nguội, cắt thành phiến dài 10cm, rộng
4-4.5cm, dầy 0.8 – 1.6cm (Trung Dược Đại Từ Điển).

Hình ảnh a giao châu

* Sao Với Cáp
Phấn: Lấy chừng 1kg bột Cáp phấn cho vào chảo rang cho nóng rồi bỏ các
miếng A giao vào rang cho đến khi A giao nở dòn không còn chỗ cứng nữa
thì dùng rây ray bỏ bột Cáp phấn đi (Trung Dược Đại Từ Điển).

* Sao Với Bồ
Hoàng: Cho Bồ hoàngvào chảo, rang nóng rồi cho A giao xắt mỏng
vào, rang cho đến khi A giao nở dòn thì bỏ Bồ hoàngđi (Trung Dược
Đại Từ Điển).

* Ngâm với
rượu hoặcnấu với nướccho tan ra (Đông Dược Học Thiết Yếu).

b-
Theo Việt Nam:

Hình ảnh vị thuốc a giao

Lấy khăn vải sạch lau cho hết bẩn, thái nhỏ bằng
hạt bắp, cho vào chảo, sao với bột Cáp phấn hoặc Mẫu lệ (20%) cho phồng
đều (Phương Pháp Bào Chế Đông Dược)

Thành Phần Hóa Học:

+ Trong A giao chủ yếu là chất keo (Collagen). Khi thủy phân Collagen sẽ cho ra
các Axit Amin bao gồm: Lysin10%, Acginin 7%, Histidin 2%, Xystin
2%, Glycin 2%. Lượng Nitơ toàn phần là16.43 – 16.54% , Can xi
0.079 – 0,118%, Sunfua 1,10 – 2,31%, độ tro 0,75 – 1,09% (Trung Dược Đại Từ Điển).

+ Glycine,
Proline, Glutamic acid, Alanine, Arginine, Asparíc acid, Lysine,
Phenylalanine, Serine, Histidine, Cysteine, Valine, Methionine,
Isoleucine, Leucine, Tyrosine, Trytophan, Hydroxyproline, Threonine (Lưu
Lương Sơ, Trung Thành Dược Nghiên Cứu 1983, (1): 36).

Tác Dụng Dược Lý:

+ Tác Dụng
Tạo Máu: Rút máu của chó để gây thiếu máu rồi chia làm 2 lô, 1 lô dùng A
giao, 1 lô không dùng A giao. Lô dùng A giao: dùng dung dịch A giao
(30g/ 1 lít) rót vào bao tử chó. Sau đó xét nghiệm hồng cầu và các
yếu tố khác của máu thấy A giao làm tăng nhanh lượng hồng cầu và các sắc
tố của máu (Trung Dược Đại Từ Điển).

+ Tác Dụng
Đối Với Chứng Loạn Dưỡng Cơ Dần Dần: Cho chuột bạch ăn theo 1 chế độ đặc
biệt để gây loạn dưỡng cơ dần dần: nhẹ thì què, nặng thì tê liệt không
đi đứng được . Sau đó cho ăn dung dịch A giao thì sau hơn 100 ngày, đa
số các con vật hết các triệu chứng tê liệt (Trung Dược Đại Từ Điển).

+ Tác dụng chống choáng: Gây choáng đối với mèo rồi dùng dung dịch A giao 5%thêm muối (để gây đẳng trương và kiềm hóa), lọc, nấu sôi khoảng 30-40
phút, đợi nhiệt độ hạ xuống 38o thì tiêm từ từvào tĩnh mạch thấy
huyết áp trở lại bình thường và con vật được cứu sống (Trung Dược Đại Từ
Điển).

+ Ảnh Hưởng chuyển hoá đối với chất canxi: Cho chó uống dung dịch A giao đồng thời
cho ăn Canxi Carbonat, thấy lượng Can xi trong huyết thanh tăng cao. Cho
uống dung dịch A giao khả năng đông máu không tăng nhưng nếu tiêm dung
dịch 5% A giao đã tiệt trùng thì khả năng đông máu tăng (Trung Dược Đại
Từ Điển).

+ Tác dụng chống ngất: Tinh chất A giao chế thành dịch có tác dụng chống chảy máu,
ngất. Tiêm 5-6% dung dịch A giao (8ml/kg) có tác dụng làm cho
huyết áp thấp tăng lên (Trung Dược Dược Lý, Độc Lý Dữ Lâm Sàng).

+ Tác
dụng chuyển hóa tế bào Lympho: A giao có tác dụng chuyển hóa tế bào
Lympho. A giao dùng chung với bài Phúc Phương Nhân Sâm Thanh Phế Thang
có tác dụng nâng cao sự chuyển hóa tế bào Lympho nơi người bị mụn nhọt
sưng (Trung Dược Dược Lý, Độc Lý Dữ Lâm Sàng).

+ Tác dụng
cầm máu: Có thể do tác dụng tăng Canxi máu, giữ được sự cân bằng eủa
Canxi (Trung Dược văn Kiện Trích Yếu 1965, (304) nhưng chỉ với chảy máu
nhẹ,không có tác dụng đối với chảy máu nặng (Trung Dược Ứng Dụng
Lâm Sàng).

+ A giao có
tác dụng chuyển dạng Lympho bào đối với nguời khỏe (Trung Dược Học)

+ Cho chó
uống A giao làm cho Canxi huyết thanh tăng trên 10% nhưng thời gian
máu đông
không thay đổi. Nếu tiêm dung dịch 5% A giao đã tiệt trùng thì khả năng
đông máu tăng (Trung Dược Học).

+ A giao cũng
có tác dụng nhuận trường (Trung Dược Dược Lý, Độc Lý Dữ Lâm Sàng).

Vị thuốc a giao

(Công dụng, liều dùng, tính vị, quy kinh…)

Tính Vị:

+ Vị ngọt, tính bình
(Bản Kinh).

+Vị hơi ấm, không độc (Biệt Lục).

+Vị nhạt tính bình (Y Học Khải Nguyên) .

+ Vị ngọt, cay, tính bình (Thang Dịch Bản Thảo).

Quy Kinh:

+Vào kinh Thủ Thái dương Tam tiêu, Túc Thiếu âm
Thận và Túc Quyết âm Can (Thang Dịch Bản Thảo).

+Vào kinh Thủ Thiếu âm Tâm, Túc Thiếu âmThận và
Túc Quyết âmCan (Bản Thảo Hối Ngôn).

+ Vào kinh Can, Phế, Thận, Tâm (Bản Thảo Cầu Chân).

+Vào 3 kinh Can, Phế, Thận (Trung Dược Đại Từ Điển).

Tác Dụng, Chủ Trị:

+ Ích khí, an
thai.Trị lưng, bụng đau, tay chân đau nhức, lao nhọc gây ra chứng giống
như sốt rét, rong huyết, Mất ngủ (Bản Kinh)

+ Dưỡng Can khí. Trị bụng dưới đau, hư lao, gầy ốm,
âm khí không đủ, chân đau không đứng được (Biệt Lục).

+ Làm mạnh gân xương, ích khí, chỉ lỵ (Dược Tính
Luận).

+ Trị đại phong (Thiên Kim).

+ Tiêu tích.Trị các chứng phong độc, khớp xương
đau nhức, giải độc rượu

(Thực Liệu Bản Thảo).

+ Trị các chứng phong, mũi chảy nước, nôn ra máu,
tiêu ra máu, lỵ ra máu, băng trung, đới hạ (Nhật Hoa Tử Bản Thảo).

+ Hòa huyết, tư âm, trừ phong, nhuận táo, lợi tiểu
tiện, điều đại trường.Trị nôn ra máu, chảy máu cam, tiểu buốt, tiểu ra
máu, tiêu ra máu, lỵ, phụ nữ bị các chứng về huyết gây ra đau, huyết khô,
kinh nguyệt không đều, không có con, đới hạ, các chứng trước khi có thai
và sau khi sinh, khớp xương đau nhức, phù thũng, hư lao, ho suyễn cấp,
ho khạc ra máu, ung nhọt thủng độc (Bản Thảo Cương Mục).

+ Làm mạnh gân cơ, sáp tinh, cố Thận. Trị lưng đau
do nội thương (Bản Thảo Cương Mục Thập Di).

+Tư âm, bổ huyết, an thai (Trung Dược Đại Từ Điển).

+Tư âm, dưỡng huyết, nhuận phế, chỉ huyết (cầm máu),
an thai (Trung Quốc Dược Học Đại Tự Điển).

Liều Dùng:

Ngày dùng 8 -24g, uống với rượu hoặc cho vào
thuốc hoàn, tán.

Ứng dụng lâm sàng của vị thuốc a giao

Chữa các bệnh về huyết:

Trị Nôn ra máu không cầm:

A giao (sao) 80g, Bồ
hoàng 40g, Sinh địa 120g. Sắc với 600ml nước còn 200ml, chia làm 2 lần
uống (Thiên Kim Dực Phương).

Trị ho ra máu:

A giao (sao) 12g, Mộc hương 4g,
Gạo nếp 40g. Tán bột, ngày uống 3 lần mỗi lần 4g.

(Phổ Tế phương).

Trị có thai ra máu:

– A giao sao vàng,tán nhỏ. Ngày uống 16g với nướccháo, trước bữa ăn (Thánh Huệ phương) .

– A giao 120g, sao, sắc với 200ml rượu cho tan
ra rồi uống (Mai sư phương).

Trị kinh nguyệt máu ra nhiều:

– A giao sao vàng. Ngày uống 16g với rượu (Bí Uẩn
Phương).

– A giao, Đương quy, Bạch thược, Sinh địa, Cam
thảo, Xuyên khung, Ngải diệp. Các vị thuốc sau khi sắc xong, lọc bỏ bã
rồi mới cho A giao vào, quấy đều uống (Giao Ngải Thang – Kim Quỹ Yếu
Lược).

Trị nôn ra máu:

A giao (sao với Cáp phấn) 40g,
thêm 2g Thần sa, tán bột. Uống chung với nước cốt Ngó sen và Mật ong (Nghiệm
phương).

Trị nôn ra máu, Mũi chảy máu, Tai ra máu:

A giao,sao chung với 20g Bồ hoàng. Ngày uống 2 lần mỗi lần dùng 8g pha với
200ml nướcvà 200ml nướccốt Sinh Địa, uống(Thánh Huệ phương).

Chữa các bệnh về hô hấp

Trị ho lâu ngày:

– A giao (sao)40g, Nhân sâm 80g, Tán bột. Mỗi lần
dùng 12g uống với nướcsắc Thông bạch (AGiao Ẩm – Thánh Tế Tổng Lục).

– A giao (chưng cách thủy )12g, Mã đâu linh 8g,
Ngưu bàng tử 8g, Hạnh nhân12g, Nhu mễ 16g, Cam thảo 4g. Sắc uống(Bổ
Phế A Giao Thang – Trung Quốc Dược Học Đại TừĐiển).

Trị suyễn (do phong tà nhập Phế): A giao (loại
tốt), sao. Dùng Tử tô và Ô mai, sao, tán bột, sắc uống (Nhân Trai Trực
Chỉ phương).

Trị trẻ nhỏ Phế bị hư, khí suyễn: A giao 40g (sao),
Thử niêm tử (sao thơm) 10g, Mã đâu linh (sấy) 20g, Hạnh nhân(bỏ vỏ,
đầu nhọn, sao) 7 hột, Cam thảo (nướng) 10g, Gạo nếp (sao) 40g. Tán bột.
Mỗi lần dùng 8g, sắc uống ấm (A Giao Tán – Tiểu Nhi Dược Chứng Trực
Quyết).

Chữa các bệnh về Thai-Sản

Trị có thai mà bụng đau, hạ lỵ:

Hoàng liên 120g,
Thạch lựu bì 120g, Đương quy 120g, A giao (nướng) 80g, Ngải diệp 60g .
Sắc uống (Kinh Hiệu Sản Bảo).

Trị thai động không yên:

A giao 80g, Ngải diệp
80g, Thông bạch 20g, nước800ml, sắc còn 200ml chia 2 lần uống ( Sản
Bảo phương).

Trị hai động làm tiểu són, trong người bứt rứt:

A giao 120g, sắc với 400ml nướccòn 80ml, uống nóng (Thiên Kim).

Chữa các bệnh về tiêu hóa

Trị táo bón (nơi người lớn tuổi, hư yếu):

A giao
(sao) 8g, Thông bạch 12g, Sắc chung với rượu cho tan ra, thêm 8ml mật
ong vào uống nóng (Trực Chỉ phương).

Trị khí ở trường vị bị hư:

A giao 80g, Hoàng
liên (sao) 120g,Phục linh 80g. Tán bột, làm viên, ngàyuống 12 – 16g
(Hòa Tễ Cục phương)

Chữa các bệnh về gân cơ

Trị gân cơ co quắp, tay chân run giật (do nhiệt
làm tổn thương tân dịch)

A giao 12g, Bạch thược(sống) 12g, Thạch
quyết minh 12g, Câu đằng 12g, Sinh địa 16g, Phục thần 12g, Lạc thạch
đằng 12g, Mẫu lệ (sống) 16g. Trừ A giao, các vị thuốc sắc, lọc bỏ bã,
thêm A giao vào cho chảy ra, rồi cho Kê tử hoàng1 trái vào, quấy đều,
uống nóng(A Giao Kê Tử Hoàng Thang – Thông Tục Thương Hàn Luận).

Trị lao phổi, ho ra máu:

Dùng A giao tán bột mịn,
mỗi lần uống 20-30g, ngày 2-3 lần với nước sôi ấm hoặc sắc nấu thành hồ
uống. Trường hợp ho ra nhiều máu không cầm, cho tiêm Pituitrin 5-10 đơn
vị hoặc các loại thuốc Tây cầm máu khác cho ho ra máu bớt đi rồi dùng A
giao uống. Trường hợp ho ra máu ít và vừa, chỉ dùng A giao cầm máu. Có
kết hợp thuốc chống lao. Trị 56 ca, kết quả tốt 37 ca, có kết quả 15 ca,
không kết quả 4 ca, tỷ lệ có kết quả 92,7% (Trương Tâm Như, A Giao Điều
Trị 56 Ca Lao Phổi, Ho Ra Máu, Liêu Ninh Tạp Chí Trung Y 1987, 9: 39).

Trị xuất huyết tử cung cơ năng:

A giao là vị
thuốc thường dùng, thường kết hợp với bài Tứ Vật Thang, dùng bài Giao
Ngải Tứ Vật Thang: A giao 20g (hòa tan), Ngải diệp 20g, Đương qui 16g,
Thụcđịa 20g, Bạch thược 12g, Xuyên khung 12g, Chích thảo 4g, sắc uống.
Tùy chứng có thể gia giảm(Giao Ngải Tứ Vật Thang – Kim Qũy Yếu Lược).

Trị suy nhược thần kinh, mất ngủ, huyết hư tâm
phiền, mạch Tế Sác:

A giao 20g (hòa tan), Hoàng liên 8g, Hoàng cầm 8g,
Bạch thược 8g, sắc nước uống, gia thêm lòng đỏ trứng gà (Kê Tử Hoàng) 2
cái, khuấy đều, chia 2 lần, uống nóng trong ngày (Hoàng Liên A Giao
Thang – Thương Hàn Luận).

Trị chứng âm hư co giật: Thường gặp trong các
bệnh di chứng não, di chứng màng não, động kinh thể âm huyết hư:

A giao,
Bạch thược (sống), Thạch quyết minh, Câu đằng, Phục thần, mỗi thứ 12g,
Sinh địa, Mẫu lệ (sống), Qui bản, mỗì thứ 16g. A giao, Kê tử hoàng (để
riêng), các thuốc khác sắc lấy nước, bỏ bã, lúc nước đang sôi, cho A
giao rồi cho Kê tử hoàng vào, khuấy đều uống lúc còn nóng (A Giao Kê Tử
Hoàng Thang – Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).

Trị cẳng chân loét (mạn tính):

Rửa vô trùng vùng
loét, chiếu tia hồng ngoại 10-15 phút, cho A giao vào l chén đổ 70ml
nước, sắc nhỏ lửa cho thành cao rồi phết cao vào miếng gạc độ 2-3g, tùy
diện tích to nhỏ của vết loét, mỗi ngày đắp l lần, thường khoảng 20 lần
là khỏi. Đã trị 24 ca đều khỏi (Duẫn Hồng Như và cộng sự, Dùng Tia Hồng
Ngoại Kết Hợp A Giao Trị Loét Cẳng Chân 24 Ca, Tạp Chí Trung Tây Y Kết
Hợp 1987, 4: 24).

Trị chứng bạch cầu giảm và thiếu máu nhược sắc:

Dùng cao lỏng A giao (A giao, Nhân sâm, Thục địa, Đảng sâm, Sơn tra…),
có tác dụng tăng bạch cầu, bổ huyết và tăng miễn dịch. Đã trị bạch cầu
giảm 179 ca, tỷ lệ kết quả 79,33%, thiếu máu nhược sắc 230 ca, tỷ lệ kết
quả 6′,8% (Lý Thượng Ngọc, Kết Quả Nghiên Cứu A Giao, Báo Công Nghiệp
Sơn Đông, 1986, 3: 21).

Trị động thai: Thuốc có tác dụng an thai.

Dùng A
giao 12g, Trứng gà 2 quả, đường đỏ 30g. Trị 36 ca, khỏi 30 ca, tỷ lệ
khỏi 83,3% (Vương Tâm Hảo, Tự Chế A Giao Kê Tử Hoàng Thang Trị Động
Thai, Hoạt Thai, báo Trung Y Sơn Tây 1987, 2: 35).


Tham Khảo:

Bào chế a giao theo quan niệm của người Trung Quốc xưa

Trước kia theo quan niệm của người Trung Quốc thì muốn chế a giao
chất lượng tốt bên cạnh chọn loại da của con lừa già thì cần phải dùng
nước từ giếng A Tỉnh. A Tỉnh, nay ở 30 dặm về phía Đông – Bắc huyện
Dương Cốc, phủ Đoài Châu tỉnh Sơn Đông (huyện Đông A xưa) nơi đó là cấm
địa của quan ở. Ly Đạo Nguyên trong ‘Thủy Kinh Chú ‘ ghi: “Huyện Đông A
có cái giếng to như bánh xe ngựa, sâu hơn 20 mét, hàng năm lấy nước
giếng đó nấu cao dâng cho triều đình. Nước trong giếng này bắt nguồn từ
sông Tế chảy xuống, lấy nước này nấu cao. Khi quậy, nước (đang) trọc
đục thì trong lại, vì vậy dùng vào việc thông quan cách, làm cho tiêu
đờm, cầm nôn mửa. Vì nước sông Tế trong mà nặng, tính của nó hướng
xuống, do đó chữa được ứ đọng, bẩn đục và đờm nghịch đi lên vậy “ (Bản
Thảo Cương Mục).

“ Giếng A Tỉnh là con mắt của sông Tế Thủy. Sách
Nội Kinh cho rằng Tế Thủy cũng như cái gan của trời đất cho nên phần
nhiều có công dụng nhập vào tạng Can. Da con lừa mầu đen, mầu sắc hợp
với hành Thủy ở phương Bắc, là giống vật hiền lành mà đi khỏe, cho nên
nhập vào Thận cũng nhiều. Khi Thận thủy đầy đủ thì tự nhiên chế được hỏa,
hỏa tắt thì không sinh ra phong, cho nên chứng Mộc vượng làm động phong,
tâm hỏa thịnh, Phế kim suy, không gì là không thấy kiến hiệu. Lại nói: A
giao thứ thật khó mà có được thì dùng Hoàng Minh Ngưu Giao, nhưng da
trâu thường chế không đúng phép,mình tự chế lấy thì tốt. Khi nấu phải
cho vào 1 miếng gạc hươu, nếu không thì không thành cao. Cao da trâu gọi
là Ngưu Bì Giao hoặcThủy Giao, có tác dụng nhuận táo, lợi đại tiểu
trường, là thuốc chủ yếu để chữa đau, hoạt huyết của ngoại khoa, trị tất
cả các chứng về huyết của nam và nữ. Mọi thứ cao đều bổ huyết, dưỡng hư,
mà A giao lại là da lừa đen nấu thành với nướcgiếng A Tỉnh, tức là
nước sông Tế Thủy ngâm vào, mầu sắc chính biếc, tính thì chạy xuống gấp,
trong mà lại nặng, hoàn toàn âm tính, rất khác với nướcở các sông khác,
do đó càng có khả năng để nhuận Phế, dưỡng Can và tư bổ Thận” (Dược
Phẩm Vậng Yếu)

+“Nay tại tỉnh Sơn Đông cũng làm được như vậy.
Loại da sử dụng có loại già loại non, loại cao thì có loại thanh loại
trọc. Khi nấu phải bỏ vào 1 miêng sừng hươu (Lộc giác) thì sẽ thành được
keo, nếu không làm như vậy thì không được .Về cao có 3 loại:

+ Loại trong mà mỏng là loại các họa sĩ thường
dùng .

+ Loại trong mà dầy gọi là Phúc Bồn Giao

2 loại này thường dùng làm thuốc.

+ Loại trọc đục mà đen thì không dùng làm thuốc
nhưng có thể làm keo dán dụng cụ” (Thực liệu bản thảo).

+ “ A giao là vị thuốc phải gia công chế biến .
Dùng da lừa đen, lấy nước giếng Đông A ở tỉnh Sơn Đông nấu thành cao để
chữa ho lao, là vị thuốc chủ yếu chỉ (cầm) huyết của các chứng về huyết.
Dùng loại trong, sáng, dòn, không tanh hôi, không mềm nhũn làtốt. Khi
dùng vị thuốc này phải làm cho chảy ra rồi hòa với thuốc khác mà uống,
không nên sắc chung với các vị thuốc khác vì sắc nó khó tan ra nướccốt,
hiệu quả điều trị không cao” (Đông Dược Học Thiết Yếu)

+ “A giao gặp được lửa rất tốt” (Bản Thảo Kinh Tập
Chú).

+”A giao có Thự Dự (Hoài Sơn) làm sứ thì tốt (
Dược Tính Luận)

+” Thứ keo nấu bằng da lừa loại tốt được gọi là
‘Cống Giao’ (dùng để cống cho nhà vua) còn thứ nấu bằng da trâu, bò gọi
là Minh Giao (Phương Bào Chế Đông Dược Việt Nam).

So sánh

+A giao và Lộc giác giao là những vị thuốc đại bổ,
rất có liên hệ với huyết. Cả 2 đều có tác dụng tư âm, dưỡng huyết, chỉ
huyết. Nhưng A giao vị ngọt, tính bình thiên về bổ huyết, chỉ huyết.
Kiêm tư Phế, an thai, cầm huyết hư ra nhiều. Còn Lộc giác giao vị ngọt,
mặn, tính ấm, thiên về ôn bổ Can,Thận, cố tinh. Phần hỏa suy nhiều phải
dùng Lộc giác giao” (Trung Dược Lâm Sàng Giám Dụng Chỉ Mê).

+ Thục địa và A giao có tác dụng tư âm, bổ huyết
nhưng Thục địa thiên về bổ Thận âm, trấn tinh tủy mà bổ huyết còn A giao
thiên về nhuận Phế, dưỡng Can, bổ huyết mà tư âm, chỉ huyết.Hễ âm hư,
bất túc thì hư hỏa bốc lên gây ra hư phiền, mất ngủ, thai động không yên,
dễ bị xẩy thai. Dùng bài Tứ Vật Thang Gia Vị trị 19 trường hợp dọa xẩy
thai đạt kết quả tốt. Bài thuốc dùng: A giao, Ngải diệp, Bạch thược,
Đương quy, Cam thảo, Xuyên khung, Thục địa (tức là bài Tứ Vật Thang thêm
A giao, Cam thảo, Ngải diệp). Tùy chứng gia giảm thêm (Trung Dược Dược
Lý, Độc Lý Dữ Lâm Sàng).

+ A giao có đầy đủ tác dụng dưỡng âm, bổ huyết và
nhuận Phế, chỉ khái. Lại do chất keo
dính, béo, có thể ngưng cố huyết lạc cho nên tốt
về chỉ huyết. Thường dùng trong các chứng thổ huyết, chảy máu cam, tiêu
ra huyết, cũng như phụ nữ bị băng huyết, lậu huyết. A giao có thể nhuận
Phế, chỉ khái lại trị ho ra máu, cho nên nó là thuốc chính để trị phế
lao. A giao không những dùng cho nội thương mà còn dùng cho những trường
hợp sau khi bị nhiệt bệnh như tâm phiền, mất ngủ do nhiệt làm tổn thương
phần âm huyết, có thể dùng chung với thuốc thanh nhiệt. Trường hợp bệnh
âm dịch hao tổn, huyết hư sinh phong thì có thể dùng chung với thuốc tức
phong, trấn kinh, thanh nhiệt. Vị này dùng sống hoặc sao đều có công
dụng chỉ huyết, bổ huyết. Chỉ có dùng sống thì công hiệu tư âm mới tốt,
dùng sao thì công dụng chỉ huyết mới mạnh (Thực Dụng Trung Y Học).

+…Ngày nay các nhà bào chế thuốc dùng Hoàng minh giao, đa số là da trâu, bò. A giao trong ‘Bản Kinh’ cũng là da
trâu, bò. Dù là da lừa hoặc trâu bò đều có thể dùng được. Nhưng hiện
nay cách chế da trâu bò không được tinh xảo nên chỉ dùng vào việc dán
dụng cụ… không thể dùng vào việc làm thuốc được. Trần Tàng Khí nói
rằng:” Các loại ‘giao’ đều có thể chữa phong, cầm tiết, bổ hư vì vậy cao
da lừa chuyên chữa về phong là vậy”. Đây là điều cho thấy rằng A giao hơn
các loại cao khác vậy -Chác Nhai nhận định:“Nghe nói cách chế keo
ngày xưa là trước tiên lấy nước ở khe suối tên Lang ( Lang Khê) ngâm da
sau đó lấy nước giếng A Tỉnh nấu thành cao. Lang Khê phát nguồn từ suối
Hồng Phạm, tính nó thuộc Dương, còn nước giếng A Tỉnh thuộc Âm, ý là
lấy Âm Dương phối hợp với nhau. Dùng lửa cây dâu tằm luyện thành cao,
sau 4 ngày 4 đêm thì thành A giao. Lại nói rằng người dùng A giao kỵ
nhất là rượu, nên cố gắng phòng tránh . Đây là điều người xưa chưa từng
nói, vì vậy ghi lại để biết vậy – Vị A giao chủ yếu bổ huyết dịch, vì
vậy nó có khả năng thanh phế, ích âm, chữa được các chứng bệnh. Trần -Tự-Minh
cho rằng:” Bổ hư thì dùng Ngưu bì giao, trừ phong thì dùng Lư bì giao (keo
da lừa)”. Thành-Vô-Kỷ lại cho rằng:”Phần âm bị bất túc thì bổ bằngthuốc có vị đậm đặc, vị ngọt của A giao để bổ âm huyết”. Dương Sĩ Doanh
cho rằng: “Hễ trị chứng ho suyễn, bất luận Phế bị hư hoặcthực, nếu
dùng phép hạ hoặcphép ôn đều phải dùng đến A giao để an và nhuận Phế.
Tính của A giao bình hòa,là thuốc cần thiết cho kinh Phế. Trẻ nhỏ sau
khi bị động kinh, cơ thể co rút, dùng A giao, tăng gấp đôi vị Nhân Sâm
sắc uống là tốt nhất (Trung Quốc Dược Học Đại Tự Điển).

Kiêng Kỵ:

+ Kỵ dùng
chung với vị Đại hoàng (Bản Thảo Kinh Tập Chú).

+Vị (bao tử) yếu, nôn mửa: không dùng. Tỳ Vị hư,
ăn uống không tiêu không nên dùng (Bản Thảo Kinh Sơ).

+Vị hư, nôn mửa, có hàn đàm, lưu ẩm, không nên
dùng (Bản Thảo Hối Ngôn).

+Tiêu chảy không nên dùng (Bản Thảo Bị Yếu).

+ Ngưòi tỳ vị hư yếu (tiêu chảy, ói mửa, tiêu hóa
kém…) không dùng(Trung Dược Đại Từ Điển).

+ Rêu lưỡi béo bệu, ăn không tiêu,tiêu chảy:
không dùng (Trung Dược Dược Lý, Độc Lý Dữ Lâm Sàng).

Nơi mua bán vị thuốc A GIAO đạt chất lượng ở đâu?

Trước thực trạng thuốc đông dược kém chất lượng, nguồn gốc không rõ ràng,… xuất hiện tràn lan trên thị trường, làm ảnh hưởng tới hiệu quả điều trị cũng như ảnh hưởng tới sức khỏe của bệnh nhân. Việc lựa chọn những địa chỉ uy tín để mua thuốc đông dược là rất quan trọng và cần thiết. Vậy khách hàng có thể mua vị thuốc A GIAO ở đâu?

A GIAO là vị thuốc nam quý, được sử dụng rộng rãi trong YHCT. Hiện tại hầu hết các cửa hàng thuốc đông dược, phòng khám đông y, phòng chẩn trị YHCT… đều có bán vị thuốc này. Tuy nhiên người mua nên chọn những địa chỉ có uy tín, đảm bảo chất lượng, có giấy phép hoạt động để mua được vị thuốc đạt chất lượng.

Với mong muốn bệnh nhân được sử dụng những loại dược liệu đúng, chất lượng tốt, Nhà thuốc Đông y An Nhiên Đường không chỉ là đia chỉ khám chữa bệnh tin cậy, uy tín chất lượng mà còn cung cấp cho khách hàng những vị thuốc đông y (thuốc nam, thuốc bắc) đúng, chuẩn, đạt chất lượng cao.

Các vị thuốc có trong tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam đều được nghành y tế kiểm nghiệm đạt chất lượng tiêu chuẩn.

Vị thuốc A GIAO được bán tại Phòng khám là thuốc đã được bào chế theo Tiêu chuẩn NHT

Giá bán vị thuốc A GIAO tại Nhà thuốc Đông y An Nhiên Đường: 680.000 vnđ/1kg

Tùy theo thời điểm giá bán có thể thay đổi.

Cách thức mua

bán

+ Khách hàng có thể mua trực tiếp tại địa chỉ phòng khám:

Văn Quán, Hà Đông, Hà Nội

+ Mua trực tuyến: Thuốc được chuyển qua đường bưu điện. Khi nhận được thuốc khách hàng thanh toán tiền COD.

Tag: cay a giao, vi thuoc a giao, cong dung a giao, Hinh anh cay a giao, Tac dung a giao, Thuoc nam

Annhienduong.com Tổng hợp

*************************

Vọng giang nam, tác dụng chữa bệnh của Vọng giang nam

Vọng giang nam

Tên khác

Tên thường gọi: Vọng giang nam, cốt khí muồng, dương giác đậu, giang nam đầu, thảo
quyết minh, sơn lục đậu, dã biển đậu, muồng hòe, muống lá
khế, kim đậu tử, kim hoa báo tử, phượng hoàng hoa thảo, lê trà, đại dương giác thái, đầu vựng thái, sơn cà phê,
muồng tây

Tên khoa học: Cassia occodentalis L.

Họ khoa học: họ
vang Caesalpniaceae.

Lưu ý: cần phân biệt với hạt muồng, thảo quyết minh, đậu ma, giả lục đậu, giả hoa sinh, lạc giời. (Tên khoa học Cassia tora L)

Cây vọng giang nam

(Mô tả, hình ảnh cây vọng giang nam, phân bố, thu hái, chế biến, thành phần hóa học, tác dụng dược lý)

Mô tả:

Hình ảnh cây vọng giang nam

Vọng giang nam là một cây thuốc quý, dạng cây nhỏ cao 0.6-1m, thân phía dưới hóa
gỗ. Toàn thân nhẵn, không có lông, lá mọc so le, kép lông
chim chẵn, lá chét 4-9cm, mọc đối, hình trứng thuôn, không
cuống, phiến lá lệch ở phía cuống, toàn lá dài 20cm. Hoa ở
kẽ lá hay đầu cành, màu vàng nhạt, mọc thành chùm. Quả giáp,
dài 6-10cm, rộng tới 7mm, hơi hình cung, giữa các hạt hẹp
lại làm cho quả trông có dáng gồm rất nhiều đốt nối nhau.
Hạt dẹt hình trứng dài 4mm, rộng 3mm, xếp chồng lên nhau theo
chiều dọc. Vỏ cứng nhẵn bóng.

Phân bố:

Trung Quốc (Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Phúc Kiến, Hà Bắc v.v… tại đây có nơi trồng để làm thuốc), Ấn Độ, Braxin (Nam Mỹ) cũng có. 

Cây mọc hoang khắp nơi tại việt nam. Người ta dùng toàn bộ cây, hay chỉ hái lá, hái hạt về phơi khô. Ở Việt Nam ta chưa chú ý khai thác loài này. 

Người ta dùng toàn cân,
hay chỉ hai lá, hái hạt về phơi khô.

Thành phần hóa học:

Trong hạt, Heckel đã nghiên cứu thấy: Độ ẩm 8,855%, chất béo và chất màu tan trong clorofoe 1,150%, chất béo và chất màu tan trong ête dầu hoả 1,60%, chất màu và ít tanin 5,022%, glucoza 0,738%, chất pectin, gôm, chất nhầy 15,734%, chất anbuminoit tan 6,536%, chất anbuminôit không tan 2,216%. 

Theo Lưu Mễ Đạt Phu (1955), trong vọng giang nam có chất antraglucozit gọi là emođin, tanin, chừng 36% chất nhầy, 2,55% chất béo, 4,33% tro. 

Trong lá cũng có chất emođin, hợp chất hydrat cacbon và flavonozit như vitexin. 
Toàn cây có tanin, chất béo và chất nhầy.

Trong hạt có physcion C16H1205 (J. Am. Pharm. Assoc., 1957, 46, 271; c. A. 1969, 70, 84918m) physcion-1-glucozit, C22H22O10 (Experientiơ, 1971, 43), l,8-dihydroxy-2-metylanthraquinon, 1,4,5- trihydroxy-3-metyl-7-metoxy anthraquinon (.Experientia 1974, 30, 850), N-metylmorpholin (C.A, 1971, 74, 50512s) galactomannan (J. chem. 1973, 11, 1134). 

Trong rễ có cassiollin C17H12O6, chrysophanol C15H10O4, xanthorin, 1,4,5-trihydroxy-2 metoxy – 7methylanthraquinon,Cl6H1206. islandixin -1,4,5 trihydroxy-2- metylanthraquinon C15H10P5 1,4,5,- trihydroxy -7 metylanthraquinon helminthosporin C15H10O5 (Indian J. Chem., 1974, 12, 1042).

Trong lá có dianthronic heterozit (C. A., (969, 70, 84918m). Trong vỏ quả có C-glucozit của apigenin (C. A., 1969, 70, 84918m). 

Tác dụng dược lý

Đang tiếp tục cập nhật

Vị thuốc vọng giang nam

(Tính vị, quy kinh, công nghệ, liều dùng)

Tính vị

Vọng giang nam có vị mặn, tính bình, có độc. Tác dụng thanh can,
ích thận, khử phong, sáng mắt, nhuận tràng, thông tiện. Dùng
chữa thong manh có màng, mắt đỏ, nhiều nước mắt, đầu nhức,
đại tiện táo bón. Người ỉa lỏng không dùng được.

Hạt thanh nhiệt, làm sáng mắt, tiêu viêm, làm dễ tiêu hoá, nhuận tràng.

Lá và thân tiêu viêm, giải độc.

Rễ khư phong thấp.

Quy kinh

Vào kinh can, thận

Công dụng:

Chữa táo bón, đầy bụng, ăn không tiêu.

Cách dùng – liều dùng:

Dùng 10-20g/ngày (sao vàng), dạng thuốc sắc.

Tác dụng chữa bệnh của vị thuốc vọng giang nam

Chữa huyết áp cao, đau đầu, táo bón:

Dùng hạt vọng giang nam 15-30g rang và xay, nấu nước uống.

Chữa đau đầu kéo dài

Lấy 30g lá vọng giang nam, 240g thịt lợn nạc, thêm muối, nấu ăn như canh.

Tham khảo

Kiêng kỵ

Người tiêu chảy không dùng

Phụ nữ có mang không nên dùng.

Vọng giang nam được sử dụng ở nhiều nơi

Hiện nay
nhân dân dùng vọng giang nam làm thuốc chữa bệnh đau mắt, người ta cho rằng uống vọng giang nam mắt sẽ sáng ra, còn
dùng ngâm rượu và dấm để chữa bệnh hắc lào, bệnh chàm mặt ở
trẻ em. Qua nghiên cứu hiện nay người ta dùng thảo quyết
minh làm thuốc bổ, lợi tiểu và đại tiện, ho, nhuận tràng và
tẩy, cao huyết áp, Nhức đầu, hoa mắt, uống thảo quyết minh,
đại tiện dễ dàng mà không đau bụng, phân mềm không lỏng. lá
có thể dùng thay vị phan tả diệp.

Vọng giang nam không chỉ được dùng ở các nước châu Á, mà còn được dùng ở các nước khác. 

Theo E. Perrot, hạt Cassia ocidentalis tươi có độc do một chất toxanbumin (phytotoxin) và cryzarobin (chrysarobin) là một antraglucozit. Khi rang lên hạt sẽ hết độc và được dùng ở châu Phi uống nước thay cà phê gọi là cà phê của người da đen, mùi thơm dễ chịu. Nếu dùng tươi thì có đệ Thực tế trong năm 1913 ở ngoại ô Paris (thủ đô nước Pháp) đã xảy ra những vụ ngộ độc ngựa ( cho ăn hạt này lẫn với yến mạch (avoine). Năm 1924 lại xảy ra vụ ngộ độc nữa cũng do cho ngựa ăn hạt không rang. Khi bị ngộ độc thì viêm ruột,’ viêm màng óc. Những chất độc khi rang lên sẽ phá huỷ cho nên rang lên mới dùng được. 

Một số tác giả châu Âu khác (Deliouxc Savignac, Dubonnex v.v…) đã nghiên cứu tác dụng chữa bệnh của hạt vọng giang nam mọc ở các nơi khác đã xác nhận hạt này có tác dụng chữa sốt, điều kinh. Tại các nuớc châu Phi, người ta dùng lá, rễ và hạt.

Nơi mua bán vị thuốc Vọng giang nam đạt chất lượng ở đâu?

Trước thực trạng thuốc đông dược kém chất lượng, nguồn gốc không rõ ràng,… xuất hiện tràn lan trên thị trường, làm ảnh hưởng tới hiệu quả điều trị cũng như ảnh hưởng tới sức khỏe của bệnh nhân. Việc lựa chọn những địa chỉ uy tín để mua thuốc đông dược là rất quan trọng và cần thiết. Vậy khách hàng có thể mua vị thuốc Vọng giang nam ở đâu?

Vọng giang nam là vị thuốc nam quý, được sử dụng rộng rãi trong YHCT. Hiện tại hầu hết các cửa hàng thuốc đông dược, phòng khám đông y, phòng chẩn trị YHCT… đều có bán vị thuốc này. Tuy nhiên người mua nên chọn những địa chỉ có uy tín, đảm bảo chất lượng, có giấy phép hoạt động để mua được vị thuốc đạt chất lượng.

Với mong muốn bệnh nhân được sử dụng những loại dược liệu đúng, chất lượng tốt, Nhà thuốc Đông y An Nhiên Đường không chỉ là đia chỉ khám chữa bệnh tin cậy, uy tín chất lượng mà còn cung cấp cho khách hàng những vị thuốc đông y (thuốc nam, thuốc bắc) đúng, chuẩn, đạt chất lượng cao.

Các vị thuốc có trong tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam đều được nghành y tế kiểm nghiệm đạt chất lượng tiêu chuẩn.

Vị thuốc Vọng giang nam được bán tại Phòng khám là thuốc đã được bào chế theo Tiêu chuẩn NHT.

Giá bán vị thuốc Vọng giang nam tại Nhà thuốc Đông y An Nhiên Đường:
Gọi 035.2345.848 để biết chi tiết

Tùy theo thời điểm giá bán có thể thay đổi.

+ Khách hàng có thể mua trực tiếp tại địa chỉ phòng khám:

Văn Quán, Hà Đông, Hà Nội

Tag: cay Vong giang nam, vi thuoc Vong giang nam, cong dung Vong giang nam, Hinh anh cay Vong giang nam, Tac dung Vong giang nam, Thuoc nam

Annhienduong.com Tổng hợp

*************************

Viễn chí, tác dụng chữa bệnh của Viễn chí

VIỄN CHÍ

Tên khác:

Tên Hán Việt: Vị thuốc Viễn chí còn gọi Khổ viễn chí
(Trấn Nam Bản Thảo), Yêu nhiễu,
Cức quyển
(Nhĩ Nhã), Nga quản chí thống, Chí nhục, Chí thông, Viễn chí nhục,
Chích viễn chí, Khổ yêu, Dư lương, A chỉ thảo, Tỉnh tâm trượng
(Trung Quốc Dược
Học Đại Từ Điển).

Tên khoa học: Polygala tenuifolia Willd

Họ khoa học:  Họ Viễn chí (Polygalaceae).

Cây viễn chí

(Mô tả, hình ảnh cây viễn chí, phân bố, thu hái, thành phần hóa học, tác
dụng dược lý…)

Mô Tả:
Hình ảnh cây viễn chí, viễn chí

Cây viễn chí là cây thuốc quý.
Cây Viễn chí Polygala japonica Houtt. còn gọi
là nam Viễn chí, hay Tiểu thảo. Cây thảo, cao 10-20cm. Cành có ngay từ gốc. Cành
nhỏ hình sợi mọc lan ra, trên có lông mịn. Lá mọc so le, nhiều dạng: lá phía
dưới hình bầu dục, rộng 4-5mm; lá phía trên hình dải, đầu nhọn, dài 20mm, rộng
3-5mm, mép lá cuốn xuống mặt dưới. Hoa mọc thành chùm gầy, ngắn. Hoa xanh nhạt ở
dưới, trắng ở giữa, tím ở đỉnh. Quả nang, nhẵn, hình bầu dục. Cây này mọc hoang
ở Bắc Thái, Thanh Hóa, Nam Hà.

Cây Viễn chí Polygala sibirica L. Cây thảo,
sống lâu năm. Đường kính thân 1-6mm. Lá phía dưới nhỏ hơn, hình mác, ở cả hai
mặt đều có lông nhỏ, mịn. Hoa mọc thành chùm, dài 3-7cm. Cánh hoa màu lam tím.

Phân bố địa lý:

Cây này mọc nhiều ở miền Trung (Nghệ Tĩnh).

Vị Viễn chí ta còn nhập nội. Nó là rễ phơi khô
của cây Viễn chí Polygala sibirica L., hoặc của cây Viễn chí Polygala tenuifolia
Willd.

Ở Việt Nam có nhiều loài Viễn chí như Polygala
japonica Houtt., Polygala sibirica L… nhưng chúng chưa được khai thác.

Thu hoạch:

Vào mùa xuân, thu đàolên, bỏ thân tàn, rễ con
và đất, phơi cho vỏ hơi nhăn, rút bỏ lõi gỗ, phơi khô là được.

Phần dùng làm thuốc:

Hình ảnh vị thuốc viễn trí

Rễ khô (Radix Polygalae). Thứ ống to, thịt dầy,
bỏ hết lõi gỗ là thứ tốt.

Mô tả dược liệu:

Hình ảnh vị thuốc viễn trí chế

Viễn chí hình ống dài, cong, dài 3-13cm, đường
kính 0,3 – 1cm. Vỏ ngoài mầu vàng tro, toàn thể có đường nhăn ngang và vân nứt
tương đối dầy và lõm sâu hoặc có vân dọc nhỏ và vết rễ nhánh như cái máng nhỏ.
Dòn, dễ bẻ gẫy, mặt cắt ngang mầu trắng vàng, ở giữa rỗng. Hơi coa mùi, vị đắng,
hơi cay, nhai có cảm giác tê cuống họng (Dược Tài Học).

Bào chế:

Hình ảnh viễn trí chế mật

+ Bỏ lõi, sao lên dùng (Đông Dược Học Thiết Yếu).

+ Chích Viễn chí: Lấy Cam thảo cho vào nồi, đổ
thêm nước, nấu bỏ bã, cho Viễn chí vào (Cứ 5kg Viễn chí dùng 100g Cam thảo), nấu
vừa lửa cho hút hết nước cốt Cam thảo, lấy ra để khô là được (Dược Tài Học).

Hình ảnh viễn trí bỏ lõi

Bảo quản:

Để nơi thoáng gió, khô ráo.

Thành phần hóa học:

+ Tenuigenin A, B Chou T Q và cộng sự, Am Pharm
Assoc Sci Ed 1947, 36: 241).

+ Tenuifolin (Pelletier S W và cộng sự,
Tetrahydron 1971, 27 (19): 4417).

+ Onjisaponin A, B, C, D, E, F, G (Sakuma S và
cộng sự, Pharm Bull 1981, 29 (9): 2431).

+ Tenuifoliside A, B, C, D và a-D-
(3-O-Sinapoyl) – Fructofuranosyl-a-D- (6-O- Sinapoyl) –Glucopyranoside (Ikeya Y
và cộng sự, Chem Pharm Bull, 1991, 39 (10): 2600).

+ Tenuifoliose A, B, C, D, E, F (Miyase Y và
cộng sự Chem Pharm Bull 1991, 39 (11): 3082).

Tác dụng dược lý:

Hình ảnh viễn trí trộn chu sa

+Thuốc có tác dụng hóa đờm rõ, thành phần hóa
đờm chủ yếu là ó vó re Cơ chế hóa clam của thuốc có thế do thuốc kích thích lên
niêm mạc bao tử gây phản xạ tăng tiết ở phế quản(Trung Dược Học).

+ Toàn bộ Viễn chí gây ngủ và chống co giật (Trung
Dược Học).

+ Chất Senegi có tác dụng tán huyết, phần vỏ
mạnh hơn phần gỗ. Viễn chí có tác dụng hạ áp (Trung Dược Học).

+ Cồn chiết xuất Viễn chí có tác dụng in vitro
ức chế vi khuần gram dương, trực khuẩn lỵ, thương hàn và trực khuẩn lao ở người
(Trung Dược Học).

+ Saponin Viễn chí kích thích dạ dày gây buồn
nôn vì thế không nên dùng đối với những bệnh nhân viêm loét dạ dày (Trung Dược
Học).

+Trên súc vật thực nghiệm, thuốc cho uống hoặc
chích tĩnh mạch đều có tác dụng kích thích tử cung có thai hay không đều như
nhau (Trung Dược Học).

Độc tính:

+ Liều độc LD50 của vỏ rễ Viễn chí cho chuột
nhắt uống là 10.03 ± 1.98g/kg. Liều LD50 toàn rễ là 16,95 ± 2.01g/kg mà rễ bỏ
lõi gỗ đi dùng đến 75g/kg thì gây tử vong (Châu Lương Kiên, Sơn Tây Y Dược 1973
(9): 52).

Vị thuốc viễn chí

Tính vị:

Hình ảnh vị thuốc viễn trí chế

+ Vị đắng, tính ôn (Bản Kinh).

+ Không độc (Biệt Lục).

+ Vị dắng, hơi cay, tính ôn (Bản Thảo Kinh Sơ).

+ Vị chua, hơi cay, tính bình (Y Học Trung
Trung Tham Tây lục).

+ Vị đắng, tính ôn, không độc (Trung Quốc Dược
Học Đại Từ Điển).

+ Vị đắng, cay, tính ôn (Trung Dược Đại Từ Điển).

Quy kinh:

. Vào kinhThận, phần khí (Thang Dịch Bản Thảo).

. Vào kinh Tâm, Can, Tỳ (Trấn Nam Bản Thảo).

. Vào kinh Tâm, Thận (Trung Dược Đại Từ Điển).

+ Vào kinh Tâm, Thận (Trung Dược Đại Từ Điển).

Tác dụng:

+ Bổ bất túc, trừ tà khí, lợi cửu khiếu, thính
nhĩ, minh mục, cường chí (Bản Kinh).

+ Giải độc Thiên hùng, Phụ tử (Bản Thảo Kinh Sơ).

+ Định Tâm khí, giải kinh quý, ích tinh (Biệt
Lục).

+ An thần, ích trí, khứ đờm, giải uất (Trung
Dược Đại Từ Điển).

Chủ trị:

+ Trị ho nghịch thương trung (Bản Kinh).

+ Trị tâm thần hay quên, kiên tráng dương đạo (Dược
Tính Luận).

+ Trị thận tích, bôn đồn (Thang Dịch Bản Thảo).

+ Trị lo sợ, hay quên, mộng tinh, Di tinh, mất
ngủ, ho nhiều dờm, mụn nhọt, ghẻ lở (Trung Dược Đại Từ Điển).

Liều dùng:

4 – 10g. Dùng ngoài tùy dùng.

Ứng dụng lâm sàng của vị thuốc viễn chí

Trị tâm thống lâu ngày:

Viễn chí (bỏ lõi),
Xương bồ (thái nhỏ) đều 40g. tán bột. Mỗi lần dùng 12g, nước 1 chén, sắc còn 7
phần, bỏ bã, uống ấm (Viễn Chí Thang – Thánh Tế Tổng Lục).

Trị ung thư, phát bối, nhọt độc:

Viễn chí (bỏ
lõi), gĩa nát. Rượu I chén, sắc chung, lấy bã đắp vết thương (Viễn Chí Tửu – Tam
Nhân phương).

Trị họng sưng đau:

Viễn chí nhục, tán nhuyễn,
thổi vào, đờm sẽ tiết ra nhiều (Nhân Trai Trực Chỉ phương).

Trị não phong, đầu đau không chịu được:

Viễn
chí (bỏ lõi). Tán nhuyễn. Mỗi lần dùng 2g. lấy nước lạnh ngậm trong miệng rồi
thổi thuốc vào mũi (Viễn Chí tán – Thánh Tế Tổng Lục).

Trị khí uất hoặc cổ trướng:

Viễn chí nhục
160g (sao với trấu). Mỗi lần dùng 20g, thêm Gừng 3 lát, sắc uống (Bản Thảo Hối
Ngôn).

Trị tiểu đục, nước tiểu đỏ:

Viễn chí ½ cân (ngâm
nước Cam thảo, bỏ lõi), Phục thần (bỏ gõ), Ích trí nhân đều 80g. tán bột. Lấy
rượu chưng với miến làm hồ, trộn thuốc bột làm thành viên, to bằng hạt Ngô đồng
lớn. Mỗi lần uống 50 viên với nước Táo sắc (Viễn Chí hoàn – Chu Thị Tập Nghiệm Y
Phương).

Trị vú sưng (suy nhũ):

Viễn chí chưng với
rượu, uống, bã đắp vào vết thương (Thần Trân phương).

Trị thần kinh suy nhược, hay quên, hồi hộp,
mơ nhiều, mất ngủ:

Viễn chí (tán). Mỗi lần uống 8g với nước cơm, ngày 2 lần (Thiểm
Tây Trung Thảo Dược).

Trị tuyến vú viêm, tuyến vú u xơ:

Tác giả
Hoàng Sĩ Tiêu dùng Viễn chí 12g, thêm 1 5ml rượu 600 ngâm 1 lúc, cho nước 1 chén,
đun sôi 15-20 phút, lọc cho uống. Trị 62 ca tuyến vú viêm cấp, có kết qủa (Thông
Tin Tân Y Dược Quảng Châu 1973, 65) và Tuyến Vú U Xơ 20 ca đều khỏi (Trần Phú,
Trung Y Dược Học Học Báo 1977, 1: 48).

Trị âm đạo viêm do trùng roi:

Viễn chí tán
bột, thêmGlycerine làm thành thuốc đạn (Đặt vào âm đạo), mỗi viên có hàm lượng
thuốc sống là 0,75g. Trước khiđặt thuốc, dùng bài thuốc nước rửa phụ khoa: (Ngải
diệp, Xà sàng tử, Khổ sâm, Chỉ xác,đều 15g, Bạch chỉ 9g), sắc lấy nước để xông
và rửa âm hộ.Đặt thuốc vào âm đạo mỗitối 1 lần. Trị 225ca, sau 3 – 12 lần,
hết triệu chứng và kiểm tra trùng roi âm tính có 193 ca khỏi, tỉ lệ 85,8% (Cao
Tuệ Phương, Trung Y Tạp Chí 1983, 4: 40).

Trị suy nhược thần kinh do tâm huyết kém có
triệu chứng mất ngủ hay quên, hồl hộp, mơ nhiều:

Viễn chí, Phục linh đều 10g,
Xương bồ 3g, sắc nước uống (Định Chí Hoàn – (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ
Sách).

Trị suy nhược thần kinh do tâm huyết kém có
triệu chứng mất ngủ hay quên, hồl hộp, mơ nhiều:

Đảng sâm, Viễn chí, Mạch môn,
Phục linh đều 10g, Cam thảo 3g, Đương quy, Bạch thược, Sinh khương, Đại táo đều
10g, Quế tâm 3g, sắc, thêm bộtQuế tâm vào, hòa uống (Viễn Chí Hoàn – Lâm Sàng
Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Trị suy nhược thần kinh do tâm huyết kém có
triệu chứng mất ngủ hay quên, hồl hộp, mơ nhiều:

Quy bản, Long cốt, Viễn chí,đều 10g, Xương bồ 3g, sắc uống (Chẩm Trung Đơn- Lâm Sàng Thường Dụng Trung
Dược Thủ Sách).

Trị phế quản viêm mạn, ho đờm nhiều:

Viễn chí,
Trần bì, Cam thảo đều 3g, sắc uống(Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Trị phế quản viêm mạn, ho đờm nhiều:

Viễn chí
8g, Cam thảo, Cát cánh đều 6g, sắc uống (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).

Trị tuyến vú sưng đau:

Viễn chí, tán bột, hòa
rượu uống hoặc chưng cách thủy uống,dùng một ít hòa với rượu đắp (Lâm Sàng
Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Tham khảo:

Lưu ý khi dùng viễn chí

+ Dùng dơn phương (độc vi) Viễn chí trị tất cả
các chứng ung thư phát bối do thất tình uất ức, dùng Viễn chí sắc uống, bã đắp
ngoài đều khỏi cả(Dược Phẩm Vậng Yếu).

+ Viễn chí chạy vào Thận, chủ trị của nó tuy
nhiều nhưng tóm lại không ngoài công dụng bổ Thận. Viễn chí không phải là thuốc
riêng của Tâm mà làm cho mạch chỉ bổ tinh, trị hay quên vì tinh và chí đều tàng
ở Thận. Tinh hư thì chí suy, không đạt lên Tâm dược cho nên hay quên. Sách Linh
Khu ghi: Thận tàng tinh, tinh hợp chí, Thận thịnh mà không ngăn được thì tổn
thương, hay quên. Gười có chứng hay quên là vì khí ở trên không đủ, khí ởdưới
có thừa, trường vị thực mà Tâm hư thì vinh vệ sẽ lưu trệ xuống dưới lâu mà không
có lúc nào đi lên, cho nên hay quên. Hơn nữa, trong mùi vị của Viễn chí có vị
cay cho nên hạ được khí mà chạy đến kinh quyết âm. Sách Nội kinh ghi: Dùng vị
cay để bổ là ý nghĩa thủy với mộc cùng một nguồn gốc mà muôn đời chưa ai nói ra
được(Dược Phẩm Vậng Yếu).

+ Sở dĩ Viễn chí trị được chứng mất ngủ vì Thận
tàng chí, Tâm thận không giao thì chí không định mà thần không yên. Viễn chí
thông được Thận khí lên đến Tâm, khiến cho thủy ở trong Thận lên giao tiếp với
Tâm, tạo thành Thủy Hỏa Ký tế. Còn trị ho và mụn nhọt là do công dụng lợi khiếu,
long đờm. Trước kia Viễn chí đa số được dùng làm thuốc an thần, gần đây phần lớn
dùng trị ho nghịch lên. Dùng vị đắng để tiết, lấy ôn để thông, có thể trị chứng
ho nghịch thuộc hàn ẩm (Đông Dược Học Thiết Yếu).

+ Viễn chí sống có tác dụng khử đàm, khai khiếu
mạnh. Viễn chí mà chích thì độc tính giảm, vị khí kém cũng dùng được. Viễn chí
tẩm mật, sao, thìtính nhuận, tác dụng an thần tốt. Viễn chí tính ôn, táo, uống
trong kích thích mạnh vì vậy, đàm nhiệt thực hỏa, bao tử tá tràng loét cần thận
trọng. Nếu không dùng với Chích Cam thảo sắc uống dễ gây nôn, buồn nôn(Sổ Tay
Lâm Sàng Trung Dược).

Kiêng kỵ:

+ Sợ Tề tào (Dược Tính Luận).

+ Viễn chí sợ Trân châu, Lê lô, Tề tào (Trung
Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

+ Kinh Tâm có thực hỏa, phải dùng chung với
Hoàng liên (Đông Dược Học Thiết Yếu).

+ Có thực hỏa, kiêng dùng (Lâm Sàng Thường Dụng
Trung Dược Thủ Sách).

Nơi mua bán vị thuốc VIỄN CHÍ đạt chất lượng ở đâu?

Trước thực trạng thuốc đông dược kém chất lượng, nguồn gốc không rõ ràng,… xuất hiện tràn lan trên thị trường, làm ảnh hưởng tới hiệu quả điều trị cũng như ảnh hưởng tới sức khỏe của bệnh nhân. Việc lựa chọn những địa chỉ uy tín để mua thuốc đông dược là rất quan trọng và cần thiết. Vậy khách hàng có thể mua vị thuốc VIỄN CHÍ ở đâu?

VIỄN CHÍ là vị thuốc nam quý, được sử dụng rộng rãi trong YHCT. Hiện tại hầu hết các cửa hàng thuốc đông dược, phòng khám đông y, phòng chẩn trị YHCT… đều có bán vị thuốc này. Tuy nhiên người mua nên chọn những địa chỉ có uy tín, đảm bảo chất lượng, có giấy phép hoạt động để mua được vị thuốc đạt chất lượng.

Với mong muốn bệnh nhân được sử dụng những loại dược liệu đúng, chất lượng tốt, Nhà thuốc Đông y An Nhiên Đường không chỉ là đia chỉ khám chữa bệnh tin cậy, uy tín chất lượng mà còn cung cấp cho khách hàng những vị thuốc đông y (thuốc nam, thuốc bắc) đúng, chuẩn, đạt chất lượng cao.

Các vị thuốc có trong tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam đều được nghành y tế kiểm nghiệm đạt chất lượng tiêu chuẩn.

Vị thuốc VIỄN CHÍ được bán tại Phòng khám là thuốc đã được bào chế theo Tiêu chuẩn NHT.

Giá bán vị thuốc VIỄN CHÍ tại Nhà thuốc Đông y An Nhiên Đường: 800.000vnd/1kg

Tùy theo thời điểm giá bán có thể thay đổi.

+ Khách hàng có thể mua trực tiếp tại địa chỉ phòng khám:

Văn Quán, Hà Đông, Hà Nội

+ Mua trực tuyến: Thuốc được chuyển qua đường bưu điện. Khi nhận được thuốc khách hàng thanh toán tiền COD.

Tag: cay Vien chi, vi thuoc Vien chi, cong dung Vien chi, Hinh anh cay Vien chi, Tac dung Vien chi, Thuoc nam

Annhienduong.com Tổng hợp

*************************