Hy thiêm thảo, tác dụng chữa bệnh của Hy thiêm thảo

HY THIÊM THẢO

Tên
khác

Tên Việt Nam:
Cỏ đĩ, Chó đẻ hoa vàng, Nhã khỉ cáy(Thổ), Co
boóng bo (Thái), Cức lợn, Hy kiểm thảo, Lưỡi đồng, Nụ áo rìa,
Hy thiêm, Hy tiên.

Tên Hán Việt khác:
Hỏa hiêm thảo, Trư cao mẫu, Cẩu cao (Đường Bản
Thảo), Hy tiên (Bản Thảo Cương Mục), Hỏa liễm, Hy hiền, Hổ thiêm, Loại tỵ, Bạch
hoa thái, Dương thỉ thái, Thiểm thiên cẩm (Hòa Hán Dược Khảo).

Tên khoa học:
Siegesbeckia orientalis Lin. (Siegesbeckia
gluinosa Wa. Minyrathes heterophyla Turcz). Asterraceae.

Họ khoa học: Họ cúc

Cây hy thiêm thảo

(Mô tả, hình ảnh cây hy thiêm thảo, phân bố, thu
hái, chế biến, thành phần hóa học, tính vị…)

Mô tả

HÌnh ảnh cây hy thiêm thảo, vị thuốc hy thiêm thảo, hy thiêm thảoHy
thiêm thảo là một cây thuốc nam quý, dạng cây thảo sống hàng năm, cao 30-60cm, cành có
lông. Lá mọc đối, hình quả trám, có khi tam giác hay hình thoi mũi mác, dài
4-10cm, rộng 3-6cm, cuống ngắn, đầu là nhọn, phiến lá men theo cuống lá, mép có
răng cưa không đều, 3 gân chính mảnh, mặt dưới hơi có lông. Cụm hoa hình ngù có
lá, đầu màu vàng. Lá bắc ngoài 5, mặt trong có lông, mặt ngoài có tuyến. Các lá
bắc trong có tuyến ở lưng. Hoa ở phía ngoài của đầu là 5 hoa cái hình lưỡi. Các
hoa khác lưỡng tính, hình ống. Bầu hình trứng ngược có 4-5 góc. Quả bế cũng 4-5,
góc nhẵn, đen hạt. Ra hoa tháng 4-5 đến 8-9. Mùa quả tháng 6-10. Hy thiêm thuộc
loại cây thảo, thường mọc ở những nơi đất tương đối ẩm và màu mỡ, trên các nương
rẫy, bờ bãi ven đường, bãi sông trong thu lũng. Cây sinh trưởng, phát triển mạnh
về mùa hè xuân và thường tàn lụi vào mùa thu đông. Do khả năng tái sinh hữu tính
mạnh nên Hy thiêm phân bố khá tập trung trên một khu tương đối rộng. Điều kiện
này giúp chúng ta thuận tiện thu hái, nhưng cũng dễ có phương hướng khai thác
triệt để trong cả một vùng Cây khoanh vùng chủ yếu là hạn chế chăn thả trâu bò
để tránh cho cây con khỏi bị dẫm nát hoặc cắt phá cây Hy thiêm với mục đích
không cần thiết. Hy thiêm thường mọc trong nương ngô cho nên khi chăm sóc ngô
cần bảo vệ cây Hy thiêm con. Sau khi thu hái ngô một thời gian là có thể thu hái
Hy thiêm con. Do chất dính ở lá bắc, cho nên quả Hy thiêm có khả năng phát tán
nhờ động vật và con người. Ngoài ra, Hy thiêm còn có khả năng tự phát tán hạt
giống ra xung quanh nhờ gió mưa.

Cây Hy thiêm đầu tiên thấy ở nước Sở (miền
Nam Trung Quốc) dân địa phương gọi là “Hy”. Gọi cỏ có vị đắng cay có độc gọi là
“Thiêm” vì cây có khí vị hôi như mùi lợn cho nên gọi là “Hy thiêm thảo”. Hoa của cây này có chất dính, khi người ta
đi qua nó đeo dính theo người ta nên gọi là “Cỏ đĩ”.

Phân bố:

Hy thiêm là cây thuốc sống hàng năm. Cây phân bố ở khắp các tỉnh miền núi nước
ta. Cây mọc nhiều ở cá tỉnh miền núi phía Bắc, như: Tỉnh Hòa Bình, Lào cai, Hà
Giang, Yên Bái, lai Châu ….

Thu hái, sơ chế:

Hạt Hy thiêm nảy mầm vào mùa
xuân. Hy thiêm được thu hái trước khi cây có hoa mọc hoặc lúc cây bắt đầu ra hoa.
Khi thu hái cần chừa lại một số cây phân bố đều trong toàn bộ phạm vi phân bố để
cây tự gieo giống bảo đảm thu hoạch cho năm sau. Để chủ động, có thể tổ chức thu
hạt Hy thiêm khi quả gìa. Sang xuân, gieo hạt thẳng vào những khu không canh tác
hoặc gieo dặm vào những chỗ cây mọc tự nhiên còn thừa đất. Hái về phơi khô bó
thành từng bó nhỏ phơi khô cất dùng.

Phần dùng làm thuốc:

Toàn cây (Herba Siegesbeckiae).

Mô tả dược liệu:

Thân khô biểu hiện màu nâu tro hoặc nâu đen,
hình ống tròn, ở giữa bộng, có đường nhăn, vùng đốt phình lớn, nhánh mọc đối, lá
nhăn teo màu nâu đen, có lông màu trắng như nhung.

Bào chế:

1- Hễ dùng Hy thiêm thảo cần phải dùng phép
uống riêng một vị Hy thiêm như người nước Thục, cứ ngày mùng 5 tháng 5 hay mồng
6 tháng 6, hoặc ngày mồng 9 tháng 9 âm lịch chỉ hái lá, còn rễ cành hoa bỏ hết,
rửa sạch phơi khô, cho vào trong một cái hông, đặt lên từng lớp cứ mỗi lớp rưới
một lần rượu và mật, hông lên rồi lấy ra phơi, cứ hông rồi phơi làm như vậy cho
được 9 lần thì khí vị thơm ngon. Khi khô hẳn đem ra tán nhỏ hoàn với mật mà uống.
Bệnh ở tay chân tê, đau xương, mỏi lưng, mỏi gối bởi phong thấp ở ngoài, thì nên
dùng sống không nên dùng chín. Bệnh bởi can thận hư âm huyết kém thì không nên
dùng sống, phải dùng cửu chế mới được, nếu để khô, mỗi ngày uống 5-6 mươi viên,
với Rượu nhạt hoặc nước muối lúc đói.

Bảo quản:

Dễ hút ẩm, mốc, mục, mọt. Để nơi khô ráo hay
phơi và xem lại.

Thành phần hóa học

Hy thiêm có chứa các chất đắng daturosid, orientin

Tác dụng dược lý

Theo Y học cổ truyền: Trừ phong thấp, thông kinh lạc, thanh nhiệt giải
độc. Chủ trị chứng phong thấp tê liệt, ung nhọt sang độc, thấp chẩn, ngứa ngáy.

Trích đoạn Y văn cổ:

Sách Đồ kinh bản thảo: ” trị can thận phong khí, chân tay tê dại, đau trong
xương, lưng gối mỏi – kiêm chủ phong thấp sang, cơ nhục tê khó khỏi”.Hy thiêm thảo, hình ảnh cây hy thiêm thảo

Sách Bản thảo kinh sơ: ” khu phong trừ thấp kiêm hoạt huyết”.

Kết quả theo nghiên cứu dược lý hiện đại:

Thuốc có tác dụng kháng viêm, giãn mạch, hạ huyết áp, ức chế miễn dịch.

Vị thuốc hy thiêm thảo

(Công dụng, liều dùng, tính vị, quy kinh…)

Tính vị:

Vị đắng, cay, tính hàn không ấm. Có độc ít.

Quy kinh:

Vào 2 kinh, Can, Thận.

Tác dụng:

Khu phong thấp, lợi gân cốt, giảm đau, đồng
thời có tác dụng giảm độc, an thần, hạ huyết.

Chủ trị:

+ Trị phong thấp, Can dương vượng mất ngủ, Dùng
đắp ngoài chữa rắn cắn.

Liều lượng: 3 chỉ -4 chỉ.

Kiêng kỵ:

Không có phong thấp mà thuộc âm hư thì cấm dùng.
Kỵ Sắt.

Ứng dụng lâm sàng của vị thuốc hy thiêm thảo

Trị các chứng tiêu chảy do cảm phải phong hàn,
dùng trị phong khí chạy vào trường và gây tiêu chảy:

Dùng Hy thiêm thảo tán bột
trộn hồ giấm làm viên bằng hạt ngô đồng lớn lần uống 30 viên với nước (Hỏa Thiêm
Hoàn – Thánh Tế Tổng Lục).

Trị ung nhọt sưng độc, các chứng lở dữ

Hy thiêm thảo 1 lượng (Hái vào Tết Đoan ngọ), Nhũ hương 1 lượng, Bạch phàn (phi)
nửa lượng, Tán bột lần uống 2 chỉ với Rượu nóng cho tới khi lành (Càn Khôn Bí
Uẩn Phương).

Đinh nhọt sưng độc

Tết Đoan ngọ hái Hy
thiêm thảo phơi khô tán bột, lần uống nửa lượng với Rượu nóng, khi mồ hôi ra là
đạt, rất có hiệu quả (Tập Giản Phương).

Bệnh ăn vào mửa ra

Dùng Hy thiêm thảo sậy
khô tán bột luyện mật làm viên với nước nóng (Bách Nhất Tuyển Phương).

Chữa
phong thấp:

Hy thiêm thảo 250 lượng
(100g) Thiên niện kiện 12 lượng (50g), Đường và Rượu 1 lít nấu thành cao ngày
uống 2 lần, lần một ly nhỏ trước khi ăn trưa tối (Kinh nghiệm phương).

+Trị phong thấp, tê mỏi, đau nhức xương:

Dùng
cao mềm Hy thiêm 9 lượng, bột Hy thiêm 10 lượng, bột Thiên niên kiện 3 lượng bột
Xuyên khung 2 lượng. Trộn lại làm viên, ngày uống 2 lần, mỗi lần 4-5 viên, uống
cách xa bữa ăn (Hy Thiêm Thảo – Kinh Nghiệm Phương).

Miệng méo mắt xiên, phong thấp đau nhức

Dùng
Hy thiêm thảo (sống) 4 lượng tán bột, chưng phơi 9 lần, luyện mật làm viên lần
uống 2 chỉ, mỗi lần 3 lần với Rượu nóng (Kinh Nghiệm Phương).

Phong thấp viêm đa khớp dạng thấp

Dùng Hy
thiêm thảo 4 lượng sắc nước cốt gia thêm đường đen, cô lại thành cao, lần uống 1
chén trà nhỏ, ngày 2 lần uống.

Bài thuốc kinh nghiệm “Hy thiêm hoàn” chữa
những chứng miệng méo, mắt trợn cấm khẩu không nói được, thường sùi bọt mép,
uống lâu có thể sáng mắt rõ tai, đen nhánh râu tóc và cứng mạch gân cốt.

Ngày
mùng 5 tháng 5 lấy lá và cành non cây Hy thiêm rửa sạch phơi hông được 9 lần,
sao khô tán nhỏ làm viên với mật bằng hạt Ngô đồng, lần uống 40 viên với nước
cơm hoặc rượu nóng (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

Đinh nhọt phát bối

Dùng Hy thiêm thảo, Ngũ
diệp thảo (tức Ngũ trảo long), Dã hồng hoa (tức Tiểu kế), Đại toán, các vị bằng
nhau đâm nát rồi vắt lấy nước uống, khi ra mồ hôi là đạt (Trung Quốc Dược Học
Đại Từ Điển).

Trị
đau đầu cảm mạo:

Hy thiêm thảo 3 chỉ, Lục
nguyệt sương 5 chỉ, Tử tô 3 chỉ, Thông bạch 2 chỉ. Sắc uống (Lâm Sàng Thường
Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Trị viêm khớp do phong thấp, tê tay, tê chân,
đau nhức gân xương:

Hy thiêm thảo, Bạch mao đằng, mỗi thứ 3 chỉ, Xú ngô đồng
hoặc (Ngưu tất) 5 chỉ. Sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Trị xuất huyết ngoại thương, đinh nhọt sưng
tất, rắn cắn:

Hy thiêm thảo (tươi) liều lượng tùy ý, rửa sạch đâm nát đắp nơi
đau (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Ngoài ra, Hy thiêm thảo lại có tác dụng hạ
huyết áp, có thể dùng Hy thiêm thảo, Hòe hoa, mỗi thứ 5 chỉ sắc uống. Lại có tác
dụng an thần, cũng có thể dùng nó trong trường hợp suy nhược thần kinh, mất ngủ
(Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Tham khảo:

Lưu ý khi dùng hy thiêm thảo

. Những người bị sốt rét cơn lâu ngày lấy Hy
thiêm thảo gĩa lấy nước mà uống cho nôn ra là khỏi, những người bị Cọp cắn, Chó
cắn, Nhện cắn…gĩa nát Hy thiêm thảo mà đắp vào đều khỏi cả (Bản Thảo Thập Di).

. Hy thiêm vị đắng tính lạnh vào can chữa chủ
về phong khí tê mỏi, đau xương, mỏi gối và phong thấp lở ra. Trong sách có nói
rằng Hy thiêm để sống thì hàn mà hông chín thì ấm là đúng, nếu nói để sống thì
tả mà hông chín thỉ bổ có lẽ là không đúng, bởi rằng tính của nó đã khô thì có
lẽ nào hông lên là bổ ích được, chẳng qua nó chữa khỏi được phong thì chính khí
vượng lại tức là bổ, chứ bản tính của nó có gì là bổ đâu (Bản Thảo Đồ Giải).

. Hy thiêm vị đắng mà cay, tính hàn không ấm,
cho nên trong sách bảo phải hông và phơi làm như thế cho được 9 lần, lại thêm
Rượu và Mật vào để chế thì biến mất mùi hôi, thành ra mùi thơm, hễ những chứng
phong thấp ở Can và Thận rồi sinh ra tay chân tê mỏi, gân xương đau nhức và sinh
ra ghẻ lở, đều dùng được cả. Vì rằng vị đắng thì táo được thấp, tính hàn thì trừ
được nhiệt, và vị cay thì tán được phong, nếu không phải phong thấp mà sinh ra
những chứng như trên, thì lại thuốc về bệnh huyết hư, vì thuốc này tân tán không
thể dùng được, vả lại dùng chín còn khá, không đến nỗi thương phạt tới chính khí,
nếu dùng sống không chế uống vào sẽ sinh ra ỉa chảy ngay. Cứ ngày mùng 5 tháng
5, mồng 6 tháng 6, mùng 7 tháng 7, mồng 8 tháng 8, mồng 9 tháng 9 đi lấy dùng
rất tốt (Bản Thảo Cầu Chân).

. Cây Hy thiêm có mùi hôi như mùi của Lợn nên
gọi là Hy, Hy là con Lợn, nên có tên là “Hy cao mẫu” cũng nghĩa như thế. Vậy tôi
xét ra vị này để sống thì mùi hôi khô sáp, nếu uống nhiều thì hay nôn, vì tính
nó vẫn hàn mà mà khí mãnh liệt rất hay chạy bốc khai tiết, cho nên chữa được
chứng phiền nhiệt ung độc và thổ nôn ra được nghịch đàm, đến lúc đã dầm rượu và
mật hông phơi 9 lần và làm hoàn với mật nữa thì khí vị nó ôn hòa, thông lợi được
cơ quan, điều hòa được huyết mạch, cho nên những chứng tê mỏi thuộc về phong làm
thấp nhiệt thì uống vào là có hiệu quả ngay, thật là một vị thuốc hay ở trong
loài cỏ tầm thường (Trương Sơn Lôi).

. Cỏ này người ta tặng cho cái tên là ‘Cỏ thần’,
nó có tính chất kích thích làm cho ra mồ hôi, chữa được chứng cước khí. Ở
Tahiti, người ta dùng nó để chữa thương tích đau chân, sai gân, ghẻ lở, và cả
điều kinh nữa. Trong thuốc Âu mỹ thấy dùng nó trong thuốc bổ, thuốc khớp, thuốc
Giang mai (Đông Dương Dược Vật).

. Quan tiết độc ở phủ Giang Lăng tên gọi là
Thành Nội, có làm bài biểu dâng thuốc Hy thiêm lên nhà vua rằng: “Hạ thần có
người em tên là Nghiêm, năm 21 tuổi bị chứng phong nằm không dậy được, đến 5 năm,
thuốc nào chữa cũng không khỏi, có một đạo nhân tên là Chung Châm vào thăm bệnh
rồi bảo phải uống ‘Hy Thiêm Hoàn’ mới khỏi, Hy thiêm là một giống cỏ thường sinh
vào chổ ẩm ướt…(sao chế như trên) mỗi khi đói bụng uống vào với rượu nóng hoặc
là nước cơm 30 viên. Theo lời chỉ dẫn, kiên trì uống tới 200 viên, thấy bệnh lại
tăng hơn, nhưng vẫn cứ tin tưởng uống tiếp không ngại ngùng, sở dĩ bệnh tăng là
vì bước đầu sức thuốc kích thích. Uống đến 4000 hoàn thì bệnh quả nhiên khỏi,
uống đến 5000 hoàn thì sức lực thấy khỏe khoắn hơn thêm. Kẻ hạ thần thật lấy làm
mừng, thấy được sự hiệu quả như là không sai”. Nhà vua duyệt xong tờ biểu, liền
sắc cho y viên biên rõ và khảo cứu thêm.

. Lại có một tờ biểu nữa gởi dâng vua của quan
Tri Châu tên là Trương Vĩnh, dâng Thuốc hoàn Hy thiêm rằng “Đá với nước mà thay
xong cơm bữa, cỏ với cây mà chữa khỏi người đau, ấy cho nên ăn khỏi đói, không
kỳ đồ ăn ngon, chữa khỏi bệnh không cần sống thì khí lạnh, đem chưng chín thì
khí ấm (Bản Thảo Tái Tân).

. Hy thiêm thảo vị cay đắng, khí lạnh, nên phải
chế nó chín lần đồ chín lần phơi, lại phải tẩm rượu và mật, thì những trọc khí
của bệnh đắng lạnh mới hết, và mới có được mùi thanh hương, nếu không thế thì
chưa hết chất âm trọc, tất nhiên không thể thấu đến gân xương, và không trừ được
phong khí (Bản Thảo Hội Biên).

. Bài thuốc kinh nghiệm chữa bệnh than hoán (liệt
trái gọi than, liệt phải gọi hoán) dùng bài thuốc Cửu Chế Hy Thiêm’, dùng 10 cây
Hy thiêm rửa sạch, phơi âm can cho khô tán bột, trộn với mật và rượu bỏ vào hông,
dùng 6 lượng Song bạch, 6 lượng Xuyên ô, xắt nhỏ để lên trên thuốc rồi hông
chừng cháy hết cây hương, lấy ra phơi cho gần khô, lần thứ 2 dùng 6 lượng Sinh
khương, 6 lượng Thảo ô (bỏ vỏ nhọn) xắt nhỏ bỏ lên trên thuốc hông như lần trước,
lần thứ 3 dùng 6 lượng Oai linh tiên, 6 lượng Thương truật (chế nước vo gạo)
thái nhỏ bỏ lên trên thuốc lại hông như lần trước, lần thứ 4 dùng 6 lượng Khương
hoạt, 6 lượng Độc hoạt, thái nhỏ rửa sạch bỏ lên trên thuốc hông như lần trước,
lần thứ5 dùng 6 lượng Ngũ gia bì, 6 lượng Ý dĩ nhân thái nhỏ bỏ lên trên thuốc
lại hông như lần trước, lần thứ 6 dùng 6 lượng Ngưu tất, 6 lượng Cát cánh làm
như lần trước, lần thứ 7 dùng 6 lượng Sinh địa, 6 lượng Đương quy cũng làm như
mấy lần trước, lần thứ 8 dùng 6 lượng Phòng phong, 6 lượng Tục đọan cũng làm như
mấy lần trước, lần thứ 9 dùng 6 lượng Thiên môn, 6 lượng Thạch hộc cũng làm nhưtrước, nấu xong 9 lần rồi chế mật bỏ vào cối gĩa cho nhuyễn, hoàn viên bằng hạt
Ngô, phơi phép chữa lạ, miễn có thuốc hay cứu vớt, dám đưa vật mọn trình bày,
quản chi kiến thức hẹp hòi, mong được thánh minh soi xét “Số là kẻ hạ thần này,
nhân lúc tới nhà của Long Hưng đào được 1 cái bia, thấy trong bia có nói về phép
dưỡng khí và bài thuốc uống, kẻ hạ thần theo bài thuốc uống, kẻ hạ thần theo bài
thuốc ấy sai người đi hỏi thăm tìm kiếm đi lấy cho bằng được thứ cỏ Hy thiêm này,
theo phép chế hoàn, hạ thần thấy uống đến đâu thấy kiến hiệu tới đó, uống được
100 viên thì thấy sáng mắt rõ tai, uống đến 100 viên thì thấy đen râu láng tóc,
gân xương mỗi ngày 1 khỏe, hiệu nghiệm càng thấy được nhiều. Ở hạ châu, kẻ hạ
thần có quan Đô Áp La Thủ Nhất, nhân bị trúng phong bổ ngựa, câm đi không nói
được, kẻ hạ thần cho uống 10 viên thì bệnh thấy khỏe hẳn. Lại có cụ Hoà thượng
Trí Nghiêm, đã 70 tuổi bị cảm phong, trợn mắt méo miệng, thường sùi bọt miếng ra,
kẻ hạ thần cho uống 10 viên thì bệnh được khỏi ngay. Vậy nay kẻ hạ thần hợp lại
được 100 tể, sai người chức cống tên là Sử Nguyên dâng lên bệ thánh” (Trung Quốc
Dược Học Đại Từ Điển).

. Lưu Nhược Kim nói rằng: “Khi tôi 80 tuổi
thường uống thuốc tể bổ âm ích dược,vẫn cũng có công hiệu, nhưng đại tiện thường
táo, tiểu tiện thường đỏ, sau chế thêm bài thuốchoàn Hy thiêm uống chung, chữa
được 1 tháng thì có công hiệu hơn tể thuốc trước nhiều, khi ấy đại tiện không
táo, tiểu tiện không đỏ nữa,ngày xưa thánh hiền có nói “Hy thiêm chế cho đúng
phép thì rất ích cho khí huyết, bệnh tê bại tay chân uống vào rất công hiệu.
Những bài thuốc ngày xưa ‘Dũ Phong Thang’, ‘Tử Bách Đơn’, nhiều vị thuốc tân tán,
bệnh loại trúng phong dùng không thích hợp, còn bệnh bán thân bất toại đã lâu
rồi, uống thuốc bổ khí bổ huyết hóa đàm cũng nên thường uống bài Hy thiêm hoàn
nữa, uống Hy thiêm rất hay như thế thì Hy thiêm chữa được chứng bán thân bất
toại và miệng méo mắt xếch mà thôi, còn bệnh trúng phong hôn mê thì không dùng
được (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

Phân biệt:

1- Ở Thiêm tây và một số tỉnh khác của Trung
Quốc, ngoài việc dùng cây vừa mô tả, họ còn dùng cây Hy kiểm thảo hay Mao hy
kiểm có tên khoa học Siegesbeckias pubescens Makino, cũng thuộc họ Asteraceae,
rất giống và dùng với tác dụng như cây Hy thiêm thảo (Siegesbeckia orientalis
Linn) vừa mô tả ở trên. Đó là cây thân thảo sống 1 năm, toàn thân đều có lông
mềm ngắn màu trắng, thân mọc thẳng, phân nhánh ở phần trên, cao 50-60cm, màu tím
đậm.

Lá mọc đối, hình trứng, hẹp, dài 8-12cm, nhọn
trước mút, vùng gốc từ lớn tràng nhỏ xuống cuống lá như dạng hình chim bay, hai
bên mép có răng cưa không chỉnh tề, hai mặt đều có lông. Hoa tự hình đầu mọc ở
ngọn hoặc nách lá, sắp xếp thành hình viên chùy, mọc toả ra thành hình sao, có
lông dính, hoa màu vàng, quả bế hình trứng ngược.

2- Cần phân biệt với Cây cứt lợn (Ageratum
conyzoides L) thuộc họ ASTERACEAE. Có 2 cây cứt lợn cây có hoa màu tím và cây có
hoa trắng về đặc điểm hình thái và giải phẫu giống nhau, đều có tinh dầu, chỉ có
màu sắc hoa khác nhau (Xem: Bạch hoa thảo, thường dùng nhầm với Hy thiêm thảo).

3- Phân biệt cây Hy thiêm thảo với cây Nụ áo
hoa tím (Vermonia hinensis Less) họ Asteraceae. Đó là cây thảo cứng phân nhiều
nhánh không có lông, mọc so le, hình gần quả trám, mép khía răng, mặt dưới có
lông. Tràng hình ống màu tím hoa cà, mào lông rất nhiều sợi.

 

Nơi mua bán vị thuốc Hy thiêm thảo đạt chất lượng ở đâu?

Trước thực trạng thuốc đông dược kém chất lượng, nguồn gốc không rõ ràng,… xuất hiện tràn lan trên thị trường, làm ảnh hưởng tới hiệu quả điều trị cũng như ảnh hưởng tới sức khỏe của bệnh nhân. Việc lựa chọn những địa chỉ uy tín để mua thuốc đông dược là rất quan trọng và cần thiết. Vậy khách hàng có thể mua vị thuốc Hy thiêm thảo ở đâu?

Hy thiêm thảo là vị thuốc nam quý, được sử dụng rộng rãi trong YHCT. Hiện tại hầu hết các cửa hàng thuốc đông dược, phòng khám đông y, phòng chẩn trị YHCT… đều có bán vị thuốc này. Tuy nhiên người mua nên chọn những địa chỉ có uy tín, đảm bảo chất lượng, có giấy phép hoạt động để mua được vị thuốc đạt chất lượng.

Với mong muốn bệnh nhân được sử dụng những loại dược liệu đúng, chất lượng tốt, Nhà thuốc Đông y An Nhiên Đường không chỉ là đia chỉ khám chữa bệnh tin cậy, uy tín chất lượng mà còn cung cấp cho khách hàng những vị thuốc đông y (thuốc nam, thuốc bắc) đúng, chuẩn, đạt chất lượng cao.

Các vị thuốc có trong tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam đều được nghành y tế kiểm nghiệm đạt chất lượng tiêu chuẩn.

Vị thuốc Hy thiêm thảo được bán tại Phòng khám là thuốc đã được bào chế theo Tiêu chuẩn NHT.

Giá bán vị thuốc Hy thiêm thảo tại Nhà thuốc Đông y An Nhiên Đường: 85.000vnd/1kg

Tùy theo thời điểm giá bán có thể thay đổi.

+ Khách hàng có thể mua trực tiếp tại địa chỉ phòng khám:

Văn Quán, Hà Đông, Hà Nội

Tag: cay Hy thiem thao, vi thuoc Hy thiem thao, cong dung Hy thiem thao, Hinh anh cay Hy thiem thao, Tac dung Hy thiem thao, Thuoc nam

Annhienduong.com Tổng hợp

*************************

Gửi bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.