Hổ cốt, tác dụng chữa bệnh của Hổ cốt

TÁC DỤNG HỔ CỐT

Tên khác

Tên
Việt Nam:
Cao hổ cốtHổ
cốt

Vị thuốc hổ cốt còn gọi Xương cọp,Ô
duyệt cốt, Đại trùng cốt
(Trửu Hậu), Ư thỏ cốt
(Tả Truyện), Ô trạch (Hán
Thư), Bá đô cốt, Lý phụ cốt, Hàm cốt, Lý dĩ cốt, Sạm miêu cốt,
(Bản Thảo
Cương Mục), Uy cốt, Hàm cốt, Trành thỏ cốt, Vụ thái cốt
(Hoà Hán Dược
Khảo), Hổ hĩnh cốt, Tứ thối hổ cốt, Hổ đầu cốt, Hổ tích cốt, Hổ lặc
(Trung
Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

Tên khoa học: Os Tigridis.

Tiếng Trung: 虎骨

Con hổ

( Mô tả, hình ảnh, thu hái, chế biến, thành phần hoá học, tác
dụng dược lý
….)

Mô tả:

Hổ còn gọi là Hùm, Cọp, Kễnh, Ông ba mươi, có tên khoa học
là Panthera Tigris thuộc họ Felidae. Hổ quê ở phương Bắc, di cư dần xuống phía
Nam theo hai đường, đường Tây nam châu Á, cạnh cao nguyên Tây Tạng và đường
Trung Quốc qua Miến Điện, Đông Dương, tới Inđônêxia, chiều dài cơ thể 180-280cm,
đuôi 90cm, nặng có thể tới 272kg, sống ở rừng sâu bụi rậm, đồng cỏ tranh nghĩa
là những nơi có nhiều mồi ăn, nước và chỗ tránh nắng. Hổ ăn thịt nhiều loại thú:
bò tót, trâu rừng, gấu, hươu nai, lợn rừng, sơn dương, báo. Mùa nước lên Hổ ăn
cả rùa, lúc đói Hổ không từ cả ếch, nhái, cào cào. Hổ bắt mồi bằng cách cắn cổ
hay gáy, và nếu mồi khỏe có thể cắn mông, đùi sau. Thường Hổ ăn mồi từ mông…lôi
gan ruột ra ngoài và thường đợi thịt mồi thối rồi mới ăn. Hổ có bộ lông vàng đẹp
có nhiều vằn đen, có mấy thứ tiếng kêu. Khi động đực, Hổ gầm lên, tiếng gầm vang
rất xa, có ý nghĩa gọi bạn đến để giao hợp. Có khi kêu (póc) như nai để dụ mồi
lại gần. Khi giật mình kêu húp khi giận kêu (hừ hừ) hay há miệng nhe nanh “khạc”
gió. Trong mùa sinh dục cuối mùa đông hay đầu mùa xuân, hổ ghép đôi, và lúc này
tính Hổ cũng dữ tợn hơn lúc bình thường. Thời gian chửa khoảng 3 tháng rưỡi. Mỗi
lứa đẻ từ 2 -4 con (đôi khi tới 5-6 con). Hai ba năm đẻ một lứa. Hổ con sau 2
tháng có thể theo mẹ để kiếm ăn và sống với mẹ tới 1,5-2 tuổi. Hổ trưởng thành
khoảng 3-4 tuổi. Hổ sống khoảng 30 năm. Có lẽ vì thế mà có tên là “ông ba mươi”?
Hổ là loài thú rừng dữ tợn, người ta gọi nó là chúa sơn lâm cũng không quá. Hổ
rất bạo tấn công cả những con thú cao hơn nó như Voi, Bò tót, Trâu rừng… Hổ rất
khỏe có thể tha con mồi nặng hơn nó nhiều lần. Hổ có thể trèo cây dễ dàng như
mèo, có khi leo được cả cây cao 5-6m. Hổ cũng lội nước được và có lúc bơi xa tới
4-5km. Cũng như nhiều loài ăn thịt khác, Hổ có tập quán cọ vuốt vào các vật cứng
để vuốt luôn sắc. Mặc dù bạo tàn như vậy nhưng cũng như tất cả các loài thú rừng
ăn đêm, một tiếng động bất thường nào trong đêm tối, cũng làm Hổ nghi ngờ sợ hãi,
cho nên người đi rừng thường dùng hai thanh nứa đập vào nhau cũng đủ xua đuổi Hổ
chạy. Hổ là một đặc sản động vật chủ yếu của châu Á. Da Hổ đẹp, trị giá cao trên
thị trường.

Địa lý:

Có ở miền rừng núi sâu ở Việt Nam, đặc biệt là Hoà
Bình, Tuyên Quang, Bắc Thái, dọc Trường Sơn Trung bộ. Phân biệt: Cần phân biệt
với Beo, Báo (Felis Temmincki), Báo gấm (Neofelis Nebusa), Báo hoa mai (Panthera
Pardus) (Xem: Báo).

Thu bắt:

Săn Hổ bằng cách bẫy bắt sống hay dùng tên độc,
súng săn. Có thể săn bắt quanh năm. Phần dùng làm thuốc: 1- Toàn bộ xương Cọp
đều có thể dùng làm thuốc được, xương chân gọi là ‘Hổ hỉnh cốt’, xương đùi gọi
là ‘Hổ thối’, xương sọ gọi là ‘Hổ đầu’, xương cột sống được gọi là ‘Hổ tích’,
xương sườn gọi là ‘Hổ lặc’…nhưng tốt nhất là xương 2 ống chân trước (humerus),
vì khí lực toàn thân con Cọp là chú trọng bởi hai chân trước của nó. 2- Xương
Cọp nấu thành cao gọi là Cao hổ cốt (Xem: Hổ cốt giao).

Mô tả dược liệu:

Xương Hổ có phân biệt Xương đầu, xương cổ,
xương mình, (gồm xương sống, xương sườn, xương cùng cụt) và xương tứ chi, lấy
xương tứ chi và xương đầu là tốt nhất, mà trong xương tứ chi thì xương chi trước
là tốt nhất, xương lòng bàn chân và kế đó là xương chi sau, xương đầu gối của Hổ
thường bán từng cặp, rất quí, thường người ta cho rằng xương hổ lớn (trên 5kg)
và Hổ đực tốt hơn xương Hổ con và Hổ cái. Ví dụ như trong một bộ xương hổ nặng
6kg thì xương đầu nặng 1kg chiếm hết 15% toàn bột trọng lượng cả bộ xương. Xương
4 chân nặng, 3,390kg chiếm 52%. Xương sống kể cả xương cổ nặng 0,900kg chiếm
14%. Xương dườn 13 đôi nặng 0,335kg chiếm 5,5% (không kể xương ức). Xương chậu
nặng 0,355kg (cả hai mảnh) chiếm 55%. Xương bả vai nặng 0,260kg chiếm 4% xương
cùng cụt nặng 0,146kg chiếm 2,2% hai xương bánh chè nặng 0,030kg chiếm 0,45%.
Sắc xương khô cả hổ đã chết màu vàng trắng, ít dầu chất lượng kém nhất, không
dùng vào thuốc. Xương Hổ lấy màu vàng ngà, to, tươi, chất nặng, ít da thịt là
loại tốt. Xương Hổ do trúng tên độc mà chết có màu xanh trong tủy xương có thể
chứa chất độc, không dùng vào thuốc. Xương tứ chi của Hổ thô khỏe, các khớp
phình lớn, rất phát triển, mặt ngoài màu ngà, phẳng trơn láng nhuận, chất mịn,
cứng nặng, mặt cắt ngang của xương thấp tủy chứa chất béo, loại tươi chứa chất
béo rất nhiều, loại cất dấu tương đối lâu thì (dầu chất béo) tương đối khô, thể
hiện chất tủy dạng xơ mướp, có ít chất mỡ, rất thơm mãnh liệt, không có mùi tanh
hôi. Xưa nay trong hàng bán Hổ cốt thường hay xen lẫn xương Beo (Báo cốt), khó
phân biệt, cũng đã từng có xen hàng giả bằng xương Gấu (Hùng cốt), xương Heo
rừng (Dã trư cốt). Do đó việc phân biệt Hổ cốt rất quan trọng, có một số điểm
khác biệt của cần lưu ý:

Phân biệt giữa xương Hổ và xương Beo:

– Cả bộ xương: Cả bộ xương Hổ thô khỏe hơn so với xương
Beo, sắc xương màu vàng ngà, xương đầu to mà tròn. Răng hàm có hình chữ ‘tam sơn’.

– Xương chày (Hỉnh cốt) có “phong nhãn” (lỗ thông gió) có
nơi gọi là ‘Phụng nhãn’ (Mắt phụng), hơi vặn ở khuỷu, xương phụ, thô khỏe, khớp
rất phát triển, chi trước có 5 ngón, chi sau có 4 ngón, lông da phần mu bàn chân
trước và sau màu vàng nhạt tới vàng cam, không lấm tấm mà hơi có vằn sọc ngang
màu đen nâu, xương đuôi tương đối thô, và ngắn hơn. –

Cả bộ xương Beo: Ngắn nhỏ gầy hơn so với xương Hổ, sắc
xương trắng xanh, xương đầu nhỏ mà dài, xương chày Beo tuy cũng có ‘phụng nhãn’
xương phụ (bang cốt), nhưng tương đối nhỏ mà dài hơn, khớp không phát triển bằng
xương Hổ, lông da mu bàn chân màu vàng cam đến màu đỏ cam, có lấm tấm những chấm
tròn màu đen, xương đuôi nhỏ mà dài, thể tích xương đuôi Hổ lớn hơn.

– Mặt cắt ngang của xương: Hổ hỉnh cốt (xương chày Hổ) sau
khi cưa ra chứa chất nhầy tương đối nhiều hơn, loại còn tươi mà đặt nghiêng
xương, chất mỡ có thể giọt xuống, dù đã cất dấu lâu ngày, chất dầu cũng không dễ
gì khô, khí vị chất dầu thơm hơn, xương chày Beo chứa chất dầu không nhiều bằng
xương Hổ. –

Phân biệt giữa xương Gấu và xương Hổ: Xương chày của Gấu
không có ‘phụng nhãn’ và ‘bang cốt’ (xương phụ) nhỏ mà dài hơnm khớp không phát
triển bằng Hổ và Beo. Xương màu vàng ngà nhưng chất nhẹ, để lâu gõ vào nghe
tiếng rỗng trong, bên trong không có dầu mỡ. Bào chế: Nạo sạch gân thịt còn sót
lại trên xương, cưa thành từng khúc dài khoảng 3,5cm. Rán thơm bằng dầu mè hoặc
chích bằng cách sao với cát rồi thừa lúc đang còn nóng bỏ vào dấm tôi qua để
dùng. Cũng có thể nấu cao chế thành Cao Hổ cốt, hoặc ngâm rượu dùng (Xem: Hổ cốt
giao).

Cách dùng: Sắc uống hoặc ngâm rượu, nấu cao hoặc tán bột
dùng trong thuốc hoàn tán.

 Vị thuốc Hổ
cốt

( Công dụng, Tính vị, quy kinh, liều dùng …. )

Tính vị:

Vị cay, Tính hơi ấm.

Quy kinh:

Vào 2 kinh Can, Thận. Tác dụng: Khu phong, hoạt
lạc, đồng thời có tác dụng mạnh gân cốt, trị bại liệt.

Chủ trị:

Trị phong thấp,
nhức mỏi xương lâu ngày, gân cốt yếu.

Liều lượng:

3 -8 chỉ.

Kiêng kỵ:

Người huyết hư hỏa thịnh cấm dùng.

Bảo quản:

Để nơi khô ráo.

Ứng dụng lâm sàng của vị thuốc Hổ
cốt

Hóc xương:

Dùng xương Cọp tán bột uống với nước lã (Ngoại
Đài Bí Yếu).

Trị chứng hay quên và hồi hộp:

Dùng Hổ cốt ngâm sữa, nướng khô,
Bạch long cốt (chế), Viễn chí (sao), ba vị tán bột, uống với nước Sinh khương,
uống liên tục 3 ngày, uống lâu càng thêm thông minh (Dự Tri Tán – Vĩnh Loại Kiềm
Phương).

Trị mông và đùi, hai ống chân đau nhức, mới đau hay đã lâu:

2
lượng Hổ hĩnh cốt (nướng vàng gĩa nát) 1 lượng Linh dương giác, 2 lượng Bạch
thược (cắt ra), cả 3 vị dầm vào rượu cho được 7 ngày, mùa lạnh phải để 10 ngày,
mỗi ngày uống1 chén, uống khi đói bụng (Bính Bộ Thủ Tập Phương).

Trị lưng gối đau co rút nhức nhối khó chịu:

Dùng một bộ
xương sống và xương ống chân trước đập vỡ rồi cho cả lên trên cái bàn sắt, ở
dưới phải đun lửa vừa vừa, bao giờ mỡ chảy ra thì dầm vào bình rượu bịt kín, mùa
ấm dầm 7 ngày, mùa lạnh dầm 3 ngày, mỗi ngày uống 3 lần, tùy sức mà uống đến 3
tể mới khỏi (Hải Thượng Phương).

Trị chứng ‘Bạch hổ phong’, đau nhói các khớp xương và hai
chân sưng nóng:

Dùng 1 lượng Hổ hĩnh (ngâm với sữa, nướng vàng), 1 lượng Hắc phụ
tử (chế), hai vị đều tán bột, ngày uống 2 lần, mỗi lần 2 chỉ với Rượu (Kinh
Nghiệm Lương Phương).

Trị gân xương đau nhói:

Dùng xương Hổ và Thông thảo sắc
đặc, uống nửa bát, uống khi đói bụng, uống rồi đắp chăn một lúc nằm cho ra mồ
hôi, nhưng không nên uống nóng hại tới răng và không nên cho trẻ con uống vỉ sợ
răng không mọc được (Thực Liệu Bản Thảo). Trị kiết lỵ ra máu, ăn không được đã
lâu ngày, dùng xương Cọp nướng vừa xém, tán bột uống ngày 3 lần, mỗi lần một
thìa nhỏ (Trương Đại Trọng Phương).

Trị trĩ, sa trực trường:

Dùng 2 cái hổ hĩnh cốt, tẩm 2
lượng mật nướng đỏ, tán ra bột, làm viên to bằng hạt đậu, mỗi sáng dậy uống 20
hoàn, với Rượu ấm (Thắng Kim Phương).

Bỏng lửa:

Xương
Cọp đốt cháy tán bột mà bôi (Củng Thị Phương).

Lở chân, sùi vảy, hõm da:

Dùng Trần bì nấu rửa những chỗ
lở cho sạch, tán xương cọp rắc vào (Tiên Dân Đồ Soán Phương).

Trị ‘lịch tiết
thống phong’ (đau nhức các khớp):

Dùng Hổ hỉnh cốt, sao với Rượu 3 lượng, Một
dược 7 lượng tán bột, lần uống 2 chỉ với Rượu nóng, ngày 3 lần (Thánh Tế Tổng
Lục).

Trị ‘lịch tiết’, phong thấp khi đau chỗ này khi đau chỗ khác, các khớp
đều đau không chịu nổi:

Dùng Hổ đầu cốt 1 cái ngâm Sữa tô sao vàng, đâm vụn bọc
trong lụa ngâm trong 2 đấu rượu trong 5 đêm, uống từ từ (Thánh Huệ Phương).

Trẻ con rụng tóc, hói tóc:

Dùng Hổ cốt tán bột trộn dầu
bôi vào (Phổ Tế Phương).

Trị đau nhức khớp:

Hổ cốt ngâm Rượu uống (Hổ Cốt Tửu
– Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Trị đau nhức khớp:

Hổ cốt, Phụ tử,
2 vị bằng nhau, tán bột, mỗi lần uống 1 chỉ ngày 2 lần với rượu (Lâm Sàng Thường
Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Trị hàn thấp nhập lạc, gân xương đau ê:

Hổ cốt, Mộc
qua, Xuyên khung, Ngưu tất, Đương quy, Thiên ma, Ngũ gia bì, Hồng hoa, Tục đoạn,
Ngọc trúc, Tần giao, Phòng phong, Tang chi (Hổ Cốt Mộc Qua Tửu – Lâm Sàng Thường
Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Trị trẻ con yếu xương, người gìa thận hư xương yếu, đau
thắt lưng, yếu chân:

Hổ cốt, Mộc qua, Thiên ma, Nhục thung dung, Ngưu tất,
Phụ tử, các vị bằng nhau. Rẩy Rượu tán bột làm viên, lần uống 2 chỉ với nước (Hổ
Cốt Tứ Phiến Hoàn Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Trị trẻ con yếu xương, người gìa thận hư xương yếu, đau
thắt lưng, yếu chân:

Hổ cốt 1 lượng, Quy bản 4 lượng, Hoàng bá nửa cân. Tri mẫu
1 lượng, Thục địa, Trần bì, Bạch thược, mỗi thứ 2 lượng, Toả dương 1 lượng 5 chỉ,
Can khương 5 chỉ, Tán bột hồ làm viên, lần uống 3 chỉ ngày 2 lần (Hồ Tiềm Hoàn –
Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Tag: ho cot, vi thuoc ho cot, cong dung cua ho cot, Hinh anh ho cot, Tac dung
cua ho cot, Thuoc nam

Mật gấu, Hùng đởm, mat gau, hung dom - vị thuốc

TÁC
DỤNG HỔ CỐT

Mật gấu, Hùng đởm, mat gau, hung dom - vị thuốc

CÁCH
DÙNG HỔ CỐT

Mật gấu, Hùng đởm, mat gau, hung dom - vị thuốc

TÌM HIỂU VỀ
HỔ CỐT

Mật gấu, Hùng đởm, mat gau, hung dom - vị thuốc
Chế độ ăn uống cho người bị đau khớp

Mật gấu, Hùng đởm, mat gau, hung dom - vị thuốc

Sau 2 tháng uống thuốc, bệnh viêm khớp của tôi đã ổn định

Mật gấu, Hùng đởm, mat gau, hung dom - vị thuốc

Nói chuyện với thầy thuốc

Tag: cay Tac dung ho cot, vi thuoc Tac dung ho cot, cong dung Tac dung ho cot, Hinh anh cay Tac dung ho cot, Tac dung Tac dung ho cot, Thuoc nam

Annhienduong.com Tổng hợp

*************************

Tham gia bình luận

1089 bình luận

  1. [url=http://albuterolf5h.com]ggernic albuterol inhaler [/url]
    [url=http://lisinoprilf5h.com]lisinopril 40 mg coupon [/url]
    [url=http://xenicalf5h.com]xenical nz price [/url]
    [url=http://prozacf5h.com]over the counter prozac [/url]
    [url=http://propeciaf5h.com]generic propecia cvs [/url]
    [url=http://allopurinolf5h.com]allopurinol brand name [/url]
    [url=http://prozacf5h.com]switching from zoloft to prozac [/url]
    [url=http://cialisf5h.com]buy cialis in canada [/url]
    [url=http://xenicalf5h.com]xenical 120mg [/url]
    [url=http://cialisf5h.com]is there a generic drug for cialis yet [/url]
    [url=http://kamagraf5h.com]kamagra super 100mg / 60mg tablets [/url]
    [url=http://lisinoprilf5h.com]usosde lisinopril [/url]
    [url=http://tadalafilf5h.com]what is the common dosage for tadalafil online [/url]
    [url=http://tetracyclinef5h.com]tetracycline and metalloproteinase [/url]
    [url=http://valtrexf5h.com]cost of generic valtrex at walmart [/url]

  2. [url=http://buycialisonline.us.com]cialis 2.5 mg effectiveness [/url]
    [url=http://onlineviagra.us.com]buy viagra online[/url]
    [url=http://onlineviagra.us.com]http://onlineviagra.us.com[/url]
    [url=http://keflexcephalexin.com]keflex generic [/url]
    [url=http://antabuse-abc.com]antabuse 250 mg tablets [/url]
    [url=http://antabuse.run]antabuse.run[/url]
    [url=http://suhagra.us.com]suhagra.us.com[/url]
    [url=http://sildenafilcitrate247.us.org]http://www.sildenafilcitrate247.us.org[/url]

  3. (BuzzFeed News) – There is no panacea without precautions to avoid badly effects of medicine. viagra non prescription also has some. Noted, Sildenafil citrate is prescribed panacea, thus should not be taken without doctor’s advice. Charming it on your own can be fatal. This drug causes dizziness on entrancing; away frame trusty you do not operate any machinery after winning it with a view six hours. People allergic to federal health insurance are prohibited from fetching this drug. November 27, 2018 23:49

  4. [url=http://lexapro.cc]http://www.lexapro.cc[/url]
    [url=http://1stalbendazole.com]http://www.1stalbendazole.com[/url]
    [url=http://buyclomid.us.org]www.buyclomid.us.org[/url]
    [url=http://stromectol.us.com]http://www.stromectol.us.com[/url]
    [url=http://furosemide-abc.com]http://furosemide-abc.com[/url]
    [url=http://stromectol.us.com]www.stromectol.us.com[/url]