Đỗ trọng, tác dụng chữa bệnh của Đỗ trọng

ĐỖ TRỌNG

Tên
khác

Tên thường gọi: Đỗ
trọng
còn gọi là Tư trọng (Biệt Lục), Tư tiên (Bản Kinh),
Mộc miên (Ngô Phổ Bản Thảo), Miên, Miên
hoa, Ngọc ti bì, Loạn ngân ty, Qủy tiên mộc
(Hòa Hán Dược Khảo),
Hậu đỗ trọng,
Diêm thủy sao, Đỗ trọng, Xuyên Đỗ trọng, Miên đỗ trọng
(Trung Quốc Dược Học Đại
Từ Điển).

– Tên
khoa học:
Eucommia ulmoides Oliv

Họ khoa học: Thuộc họ Đỗ Trọng (Eucommiaceae).

Cây đỗ trọng

(Mô tả, hình ảnh cây đỗ trọng, phân bố, thu hái, chế biến, thành phần hóa học,
tác dụng dược lý…)

 Mô tả:

Hình ảnh cây đỗ trọng, đỗ trọngĐỗ trọng
là một cây thuốc quý, dạng thân cây gỗ sống lâu năm, hàng năm
rụng lá. Cây’ cao . từ 15 – 20m, đường kính độ 33 – 50cm, cành mọc chếch, tán
cây hình tròn. Vỏ cây màu xám. Lá mọc cách, hình tròn trứng, phía cuống hình
bầu dục hay hình thùy, đuôi lá nhọn, lá xanh có răng cưa;
mặt lá nhắn bóng, màu xanh đậm, bóng láng, mặt trái lá non
có lông tơ, lúc gìa thì nhẵn bóng không còn lông, có vân vằn, cuống lá có rãnh,không có lá bắc. Cây đực và cây cái khác nhau rõràng, hoa thường ra trước lá
hay hoa và lá cùng ra một lúc với hoa, hoa đực có cuống, mọc thành chùm, dùng để
làm làm thuốc, hoa cái do hai nhi cái hợp thành, một tâm bì, đầuquả nứt đôi.
Quả có cánh mỏng dẹt, ở giữa hơi lồi, trong có một hạt. Hạt dẹt, hai đầu tròn,
có thể dùng làm giống. Rễ và vỏ cây có chất keo màu trắng bạc như tơ, bé gãy lá
và vỏ cây thấy có những sợi nhựa. Trung Quốc có trồng nhiều. Đỗ trọng đã di thực
vào trồng ở Việt Nam, nhưng chưa phát triển.

Thu
hái, sơ chế:

Hình ảnh vị thuốc đỗ trọngSau khi cây trồng được 10 năm, thì chọn những
cây to mập để thu hoạch trước.

Vào tháng 4 – 5 hàng năm, lấy cưa cưa đứtchung quanh vỏ cây thành những đoạn dài ngắn tùy ý, rồi dùng dao rạch dọc thân
cây thành từng miếng để bóc vỏ cho dễ. Để cho cây không bị chết mà vẫn giữ
nguyên tình trạng của rừng cây, khi bóc vỏ chỉ bóc 1/3 vỏ
ở chung quanh cây, đề giữ cho cây tiếp tục sinh trưởng sau mấy năm vỏ ở chỗ bóc
đó đã liền lại như cũ, lúc đó lại có thể tiếp tục bóc. Vỏ bóc về đem luộc nước
sôi rồi trải ở chỗ bằng phẳng dưới có lót rơm, bên trên nén chặt làm cho vỏ
phẳng, chung quanh lấy rơm phủ kín để ủ cho nhựa chảy ra. Sau đó độ một tuần,
lấy ra một miếng để kiểm tra, nếu thấy vỏ có màu tím, thì có thể dỡ ra đem phơi,
cạo thật sạch lớp vỏ bên ngoài, làm cho vỏ thật nhẵn bóng, cuối cùng cắt thành
từng miếng ý muốn.

Phần
dùng làm thuốc: Vỏ (Cortex Eucommiae).


tả dược liệu:

Hình ảnh vị thuốc đỗ trọngVỏ cây dày, ít sù sì, sắc nâu đen, bẻ ra thấy
nhiều tơ trắng, dai, óng ánh là tốt.

Phân biệt bắc đỗ trọng với Đỗ trọng nam.

+ Bắc đỗ trọng: Vỏ dẹt, phẳng, dày 0,1 – 0,4cm,
dài rộng khác nhau. Mặt ngoài màu nâu vàng đến nâu xám, có nhiều nếp nhăn dọc,
có các lỗ vỏ nằm ngang và vết tích của cành cây. Mặt trong
nhẵn, nâu tím, hơi mờ. Chất giòn, dễ bé gãy, mặt bẻ có nhiều sợi nhựa trắng đàn
hồi. Mùi hơi thơm, vị hơi đắng.

+Nam đỗ trọng: Vỏ cuộn hình lòng máng, dày l
0,2 – 0,4cm. Mặt ngoài màu vàng sáng có những khoang màu vàng nâu, có nhiều
đường nứt dọc. Mặt trong nhẵn, màu nâu, chất cứng, khó bẻ, mặt bẻ có ít nhựa
đắng, đàn hồi kém, không mùi, hơi thơm, vị nhạt, hơi chát.

Phẩm chất, quy cách:

Do vị Đỗ trọng phân bố
rộng rãi khắp nơi ở Trung Quốc cho nên mỗi nơi một khác.

+ Đỗ trọng sản xuất ở Đại ba (Tứ Xuyên) mặt vỏ
mịn, dày thịt.

+ Đỗ trọng ở dẫy núi Lầu sơn (Quý Châu) thì mặt
vỏ thô mịn khác nhau, phẩm chất không tốt bằng Tứ Xuyên.

+ Còn Đỗ trọng ở Thiểm Tây, Hồ Bắc thì vỏ thô,
xù xì, mỏng thịt, chất lượng kém hơn cả.

Các qui cách chính gồm có:

Đỗ trọng dày thịt: Những miếng vỏ khô dày thịt,
to, mặt sau có màu đen tím, bẻ gãy có những sợi như sợi bông màu trắng, không bi
sâu bệnh hại và trầy sát là tốt nhất. Trong đó chia làm 3 loại theo thứ tự tốt
xấu:

(1) Khô kiệt, cạo hết lớp vỏ khô ở mặt vỏ, hai
mặt cắt đều dày 8,3mm, dài 20 – 93cm, rộng 53cm.

(2) Khô kiệt, cạo hết lớp vỏ khô bên ngoài, mặt
cắt chếch hai đầu dày 3 – 8,3mm, dài 20 – 93cm, rộng 40cm.

(3) Cạo hết lớp vỏ khô chết ở ngoài, dày 3-5mm,
dài 20 – 60cm, rộng 17 – 40cm.

2 – Đỗ trọng miếng nhỏ: Những miếng nhỏ dày
trên 3mm.

3 – Đỗ trọng mỏng thịt:
Mặt vỏ mịn như vỏ quế, mặt sau màu đen tím, bẻ gẫy có sợi như sợi bông màu trắng.
Trong đó phân làm 3 loại:

. Khô kiệt, cạo hết vỏ ngoài, hai đầu cắt thẳng,
dài 17 – 93cm, rộng 17 – 40cm.

. Khô kiệt, cạo hết vỏ mặt thô mịn khác nhau,
cắt vuông góc có độ dày khoảng 3mm, dài 20-93cm, rộng 17 – 40cm.

4-Loại ngoại lệ: Gồm những miếng dài, miếng
vụn nhỏ, miếng cuốn cong, miếng rách.

Bào
chế đỗ trọng

1- Gọt bỏ vỏ dày bên ngoài, mỗi cân dùng chừng
120g mật ong và 40g sữa tô, hòa đều, tẩm kỹ

rồi sao cho thật khô là được (Lôi Công Bào
Chích Luận).

2 – Gọt bỏ vỏ dày ngoài rồi xắt miếng nhỏ, tẩm
nước muối sao cho đứt tơ là được (Bản Thảo Cương Mục).

3 – Tẩm với rượu 40o trong 2 giờ sao vàng cho
tới khi đứt tơ là được (Trung Dược Học).

4 – Rửa sạch, cạo bỏ vỏ thô ở ngoài, cắt từng
lát nhỏ 3-5kg, đeo nhau, tơ không thể cắt được, như da rắn, phơi khô sẽ xấu, để
vậy dùng sống hoặc ngâm rượu (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

Bảo quản:

Để nơi khô ráo, không để nơi ẩm ướt
dễ bị biến chất, nếu thấy mốc mọt phải đem phơi ngay.

Thành
Phần Hóa Học của đỗ trọng

+ Gutta – Percha, Alcaloids, Glycoside,
Potassium, Vitamin C (Trung Dược Học).

+ Trong Đỗ trọng có Syringaresinol, Pinoresinol,
Epipinoresinol, 1- Hydroxypinoresinol, Erythro-Dihydroxydehydrodiconiferyl
Alcohol, Medioresinol (Deyama Y và cộng sự – Chem Pharm Bull,1987, 35 (5):
1785).

+ Ulmoprenol (Horii Z và cộng sự – Tetraheldron
Lettér 1978, (50): 5015).

+ Vanilic acid, Ursolic acid, Sitosterol,
Daucosterol (Lý Đông – Thực Vật Học Báo 1986, 28 (5): 528).

+ Augoside, Harpagide acetate, Reptóide Bianco
A và cộng sự – Tetrahedron 1974, 30: 4117).

Tác
Dụng Dược Lý của đỗ trọng

+ Tác dụng hạ áp: Sắc nước và cồn chiết xuất
thuốc đều có tác dụng hạ áp, nước sắc tác dụng mạnh hơn, nước sắc Đỗ trọng sao
tốt hơn nước sắc Đỗ trọng sống. Cơ chế tác dụng chủ yếu do thuốc trực tiếp làm
thư gĩan cơ trơn của mạch máu (Trung Dược Học)nhưng tác
dụng hạ áp thời gian ngắn (Trung
Dược Ứng Dụng Lâm Sàng).

+ Thuốc có tác dụng hạ Cholesterot huyết thanh,
dãn mạch,tăng lưu lượng máu của động mạch vành (Trung Dược Ứng Dụng Lâm Sàng).

+ Có tác dụng kháng viêm, tăng cường chứcnăng
vỏ tuyến thượng thận (Trung Dược Học).

+ Thuốc có tác dụng chống co giật và giảm đau (Trung
Dược Học).

+ Thuốc làm tăng tính miễn dịch của cơ thể.
Thực nghiệâm chứng minh thuốc có tác dụng điều chỉnh chức năng của tế bào. Lá,
cành, vỏ tái sinh của Đỗ trọng đều có tác dụng như nhau (Trung Dược Học).

+ Tác dụng đối với tử cung: nước sắc và cồn
chiết xuất Đỗ trọng có tác dụnghưng phấn tử cung tử
cung cô lập của thỏ và chuột lớn, làm cho tử cung cô lập của mèo thì tác dụng
hưng phấn lại rất nhẹ (Trung Dược Học).

+ Thuốc có tác dụng rút ngắn thời gian chảy máu
và tác dụng lợi tiểu (Trung Dược Học).

+ Thuốc sắc có tác dụng ức chế với mức độ khác
nhau đối với tụ cầu khuẩn vàng, trực khuẩn lỵ Flexner,
trực khuẩnColi, trực khuẩn mủ xanh, trực khuẩn bạch hầu, phế cầu khuẩn, liên
cầu khuẩn dung huyết B (Trung Dược Học).

Vị thuốc đỗ trọng


hình ảnh vị thuốc đỗ trọng, đỗ trọng(Công
dụng, liều dùng, quy kinh, tính vị…)

Tính
vị

Hình ảnh vị thuốc đỗ trọng+ Vị cay, tính bình (Bản Kinh).

+ Vị ngọt, tính ôn, không độc (Biệt Lục).

+ Vị đắng (Dược Tính Bản Thảo).

+ Vị ngọt, hơi cay, tính ấm (Lâm Sàng Thường
Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Quy
kinh:

+ Vào kinh Thận (Lôi Công Bào Chế Dược Tính
Giải).

+ Vào kinh thủ Thái âm Phế (Bản Thảo Kinh Giải).

+ Vào kinh Can và Thận (Lâm
Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Tác
dụng đỗ trọng

+ Bổ trung, ích tinh khí, kiện cân cốt, cường
chí (Bản Kinh).

+ Nhuận can táo, bổ can hư (Bản Thảo Bị Yếu).

+ Bổ can, thận, cường cân cốt, an thai (Trung
Dược Học).

+ Ôn thận, tráng dương, mạnh gân cốt, an thai (Lâm
Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

+ Hư nhược mà mình cứng đơ đó là do phong làm
thắt lưng không cử động được, cần phải thêm Đỗ trọng (Dược Tính Bản Thảo).

+ Đỗ trọng trị Thận suy làm thắt lưng và cột
sống co rút (Nhật Hoa ChưGia Bản Thảo).

+ Đỗ trọng nhuận được can táo, bổ can kinh sinh
ra chứng hư phong (Thang Dịch Bản Thảo).

+ Đỗ trọng có thể làm cho xương cốt dẻo dai (Dụng
Pháp Tượng Luận).

Đỗ trọng, do trong, dotrong - vị thuốcChủ
trị:

+ Trị âm nang ngứa chảy nước, tiểu gắt, lưng
đau (Bản Kinh).

+ Trị chân đau nhức không muốn bước (Biệt Lục).

+ Trị lưng gối đau nhức, vùng bìu dái lở ngứa,
âm hộâ ngứa, tiểu són, có thai bị rong huyết, trụy thai (Bản Thảo Bị Yếu).

+ Trị chứng thận hư, lưng đau,
liệt dương, thai động, thai lậu, trụy thai (Trung Dược Học).

+ Trị
cột sống đau nhức, thắt lưng đau, đầu gối
mỏi, thai động, Rong kinh, đầu đau,
chóng mặt
do thận hư (Lâm Sàng Thường Dụng
Trung Dược Thủ Sách).

Liều dùng: 8-12g, có thể dùng đến 40g.

Ứng dụng lâm sàng của vị thuốc đỗ trọng

Trị mồ hôi trộm sau khi bị bệnh, chảy nước
mắt sống:

Đỗ trọng, Mẫu lệ, 2 vị bằng nhau, tán bột, mỗi lần uống 20g với nước
lúc ngủ (Trửu Hậu phương).

Trị phong lạnh làm thương tổn thận, gây đau
thắt lưng, đau cột sống do hư:

Đỗ trọng 640g, xắt, sao với 2 thăng rượu, ngâm
trong 10 ngày, ngày uống 3 lần (Thế Y Đắc Hiệu Phương).

Trị có thai 2 – 3 tháng mà bị động thai,
ngang lưng đau như sáp sẩy thai:

Đỗ trọng (tẩm nước Gừng,
sao cho đứt tơ), Xuyên tục đoạn (tẩm rượu). Tán bột. Dùng nhục Táo nẫu kỹ lấy
nước trộn thuốc bột làm thành viên, uống với nước cơm (Đỗ Trọng Hoàn – Chứng Trị
Chuẩn Thằng).

Trị thắt lưng đau do thận hư:

Đỗ trọng bỏ vỏ,
sao vàng với sữa tô 1 cân, chia làm 10 thang, Mỗi đêm lấy 1 thang ngâm với 1 thăng nước cho
tới canh năm, sắc còn 3 phần, giảm còn 1, lấy nước, bỏ bã,
rồi lấy 3 – 4 cái thận dê, xắt lát bỏ vào sắc tiếp, bỏ tiêu muối vào như nấu
canh uống lúc đói (Hải Thượng Phương).

Trị lưng đau do thận hư: dùng phối hợp với các
vị thuốc bổ thận khác:

–  Nếu thận dương hư, dùng Thục địa 26g, Hoài
sơn 16g, Sơn thù 10g, Câu kỷ tử 12g, Đương quy 16g, Thỏ ty tử 12g, Phụ tử 6g,
Nhục quế 8g, Đỗ trọng 12g, Lộc giác giao 10g, sắc uống hoặc dùng mật chế làm
hoàn (Hữu Quy Hoàn – Cảnh Nhạc Toàn Thư).

– Nếu thận âm hư: dùng: Sinh địa 16g, Hoài sơn
12g, Sơn thù 12g, Thỏ ty tử 12g, Câu kỷ tử 16g, Ngưu tất 12g, Đỗ trọng 12g, Cẩu
tích 12g, Nhục thung dung 12g, sắc uống hoặc chế với mật làm hoàn (Tả Quy Hoàn –
Cảnh Nhạc Toàn Thư).

Trị quen hư thai, hoặc có thai cứ tới 4 – 5
tháng là hư.

Trước có thai 2 tháng, lấy 320g Đỗ trọng, Lấy gạo nếp sắc lấy nước
ngâm Đỗ trọng cho thấm rồi sao cho hết tơ, dùng 80g Tục đoạn tẩm rượu sấy khô,
tán bột, lấy Sơn dược 200-240g, tán bột làm hồ, rồi viên với các thứthuốc trên,
to bằng hạt Ngô đồng lớn, mỗi lần uống 5- a0 viên lúc đói (Giản Tiện phương).

Trị các loại bệnh sau khi sinh (sản hậu) hoặc
thai không yên:

Đỗ trọng bỏ vỏ thô ngoài, để trên tấm ngói sấy khô, bỏ vào cối
gỗ,gĩa nát, nấu Táo nhục cho thật nhừ,trộn thuốc bột làm viên to bằng hạt
Ngô đồng lớn, mỗi lần uống l viên với nước cơm, ngày 2 lần (Thắng Kim phương).

Trị liệt dương, Di tinh do thận hư:

Lộc nhung
80g, Đỗ trọng 160g, Ngũ vị tử 40g, Thục đia 320g, Mạch môn đông, Sơn dược, Sơn
thù nhục, Thỏ ty tử, Ngưu tất, Câu kỷ tử, mỗi thứ 160g (Thập Bổ Hoàn – Lâm Sàng
Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).).

Trị lưng đau do thận hư, tay chân tê mỏi,
không có sức:

Đỗ trọng, Ngưu tất, Thỏ ty tử, Nhục thung dung, Hồ lô ba, Bổ cốt
chỉ, Đương quy, Tỳ giải, Bạch tật lê, Phòng phong, mỗi thứ 2 phần, Nhục quế 1
phần, Thận heo 1 cặp (nấu chín, quết nhuyễn). Trộn lại, hoàn với mật ong, mỗi
lần uống 12g, ngày 2 lần với nước (Ổi Thận Hoàn – Lâm Sàng Thường Dụng Trung
Dược Thủ Sách).

Trị thắt lưng đau do thận hư kèm phong hàn:

Đỗ trọng, Đơn sâm, mỗi thứ 12g, Xuyên khung 6g, Quế tâm 4g, Tế tân 6g. Ngâm rượu,
uống (Đỗ Trọng Tửu – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Trị đàn bà có thai quen dạ đẻ non:

Đỗ trọng (sống)
40g, Xuyên tục đoạn 12g, Đại táo 40 trái. Sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung
Dược Thủ Sách).

Trị quen dạ đẻ non:

Đỗ trọng (sao), Tục đoạn,
Tang ký sinh, Bạch truật (sao đất sét), mỗi thứ 20g, A giao châu,
Đương quy, mỗi
thứ 12g, Thỏ ty tử4g. Sắc uống (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).

Trị huyết áp cao:

Đỗ trọng (sống), Hạ khô
thảo mỗi thứ 80g, Đơn bì, Thục địa, mỗi thứ 40g, tán bột làm viên, mỗi lần uống
12g, ngày 2 – 3 lần, với nước (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).

Trị huyết áp cao:

Đỗ trọng, Tang ký sinh,
mỗi thứ 16g, Mẫu lệ (sống) 20g, Cúc hoa, Câu kỷ tử, mỗi thứ 12g. Sắc uống (Lâm
Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Trị huyết áp cao:

Đỗ trọng, Hoàng cầm, Hạ khô
thảo, mỗi thứ 20g. Sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Trị thắt lưng đau do thận hư, yếu từ thắt
lưng xuống chân:

Đỗ trọng, Ngưu tất, Câu kỷ tử, Tục
đoạn, Bạch giao, Địa hoàng, Ngũ vị tử, Thỏ ty
tử, Hoàng bá, Sơn dược (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Trị liệt dương, Di tinh:

Lộc nhung 80g, Đỗ
trọng 160g, Ngũ vị tử 40g, Thục địa 230g, Mạch môn, Sơn dược, Sơn thù, Thỏ ty tử,
Ngưu tất, Câu kỷ tử, mỗi thứ 18Og, tán bột mịn, trộn với mật làm hoàn, mỗi lầnuống 12g, ngày 2 lần với nước muối nhạt (Thập Bổ Hoàn – Sổ
Tay Lâm Sàng Trung Dược).

Trị phụ nữ có thai dọa sẩy thai, động thai:

Đỗ trọng sống 40g, Xuyên tục đoạn 12g, Sơn dược 20g, Cam thảo 4g, Đại táo 20 quả,
sắc uống (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).

Trị sẩy thai nhiều lần:

Tục đoạn, Đỗ trọng (sao), Tang ký sinh, Bạch truật (sao), A giao,
Đỗ trọng, mỗi
thứ 12g, Thỏ ty tử 4g, sắc nước uống (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).

Trị huyết áp cao:

Đỗ trọng (sống), Hạ khô
thảo, mỗi thứ 80g, Đơn bì Thục địa, mỗi thứ 40g, tán bột
làm hoàn, mỗi lần uống 12g, ngày 2-3 lần (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).

Trị huyết áp cao:

Đỗ trọng, Tang ký sinh mỗi
thứ 16g, Mẫu lệ sống 20g, Cúc hoa, Câu kỷ tử, mỗi thứ 12g, sắc uống(Sổ Tay Lâm
Sàng Trung Dược).

Trị
đau dây thần kinh tọa:

Đỗ trọng 30g nấu
với thịt thăn heo trong 30 phút, bỏ Đỗ trọng, ăn thịt heo
mỗi ngày 2 lần, liệu trình 7- 10 ngày, tác giả chữa 6 ca kết quả tốt (Học Báo Y
Học Viện Phong Phu 1979, 1: 36)

Tham khảo

Phân
biệt đỗ trọng

1- Hiện nay ở Việt Nam có nơi dùng vỏ một cây
trong họ Trúc đào, với tên là Đỗ trọng dây hay Đỗ trọng nam hay Nam đỗ trọng [Parameria
laevigata (juss.) Moldenke = Parameria glandurifera Benth. Họ Apocynaceae. Đó là
dây leo dài 5 – IOm, Lá hình bầu dục, thuôn hay hình trái xoan ngược, có mũi
nhọn dài, nhọn hay tù ở chóp, có góc ở gốc, mặt trên sáng bóng, có mép hơi cong
về phía dưới, dạng màng, thường mọc đối và có khi mọc vòng 3. Hoa trắng thơm xếp
thành xim dạng ngù ở ngọn cây. Quả gồm 2 quả dại, dài 15 – 30cm: rẽ đôi, nhọn
nhẵn. Mào lông mềm, trắng, dài 2 – 5cm. Mùa hoa quả từ
tháng 8 đến tháng 4 năm sau. Cây mọc hoang trong rừng và lùm bụi. Có thể thu hái
vỏ quanh năm, đem về xắt nhỏ, phơi khô hay sao. Cây chứa
một chất nhựa như cao su, bẻ ra cũng có nhiều tơ nhưng không dai và kéo dài và
óng ánh như tơ của Đỗ trọng bắc. Kinh nghiệm dân gian thường dùng để trị huyết
áp cao,gây dãn mạch và thay thế cho vị Bắc đỗ trọng, cần nghiên cứu lại.

– Ở miền Trung, còn dùng vỏ một vài cây trong
chi Euonymus họ Celastraceae.

 – Phân biệt Đỗ trọng với cây Bạch phụ tử còn
gọi là cây San hô (Jatropha multifida Un.) thuộc họ Euphorbiaceae là một cây có
nhựa mủ. Khi bẻ gẫy cuống lá nhựa mủ khô lại, thành sợi tơ mành, vì vậy cũng có
người gọi là cây Đỗ trọng. Cây này chỉ thường
được trồng làm cảnh

Lưu ý khi dùng

 Đỗ trọng vị cay, khí bình, không có độc. Sách‘Biệt Lục’ lại nói là có vị ngọt tính ấm. Sách ‘Dược Tính Bản Thảo’ lại nói Đỗ
trọng vị đắng, tính ấm. Như vậy, vị cay, ngọt là chính, còn
đắng là thứ yếu và nhiều ấm, mà bình thìít.
Đỗ trọng có khí bạc vị hậu, nhập vào kinh Túc thiếu âm (Bản
Thảo Kinh Sơ).

+ Hoàng Cung Tú nói: Thục địa tư bổ Can Thận,
đi vào trong tinh tủy của cân cốt; Tục đoạn điều bổ cân cốt, ở chỗ khí huyết của
các đầu khớp gấp; Đỗ trọng bồi bổ Can thận, đi thẳng vào phần dưới của khí huyết
ở cân cốt (Đông Dược Học Thiết Yếu).

+ Đỗ trọng có công năng bổ can, tư thận, vì can
chủ cân, thận chủ cốt, thận đầy đủ thì xương cốt
mạnh, can đầy đủ thì gân khỏe mạnh, co duỗi
mạnh đều thuộc ở gân, vì vậy Đỗ trọng nhập vào can mà bổ thận, con có thể làm
cho mẹ đầy đủ (Tử năng linh mẫu thực) đểø trị can và thận đều bất túc, là thuốc
chính yếu đề trị lưng đau gối mỏi. Bài ‘Thanh Nga Hoàn’ kết hợp Bổ cốt chỉ, Hồ
đào nhục để trị lưng đau do thận hư,Bài ‘Bảo Dựng Hoàn’
của sáchBị Cấp Thiên Kim Phương dùng Đỗ trọng, Tục đoạn, Sơn dược. Bài ‘Đỗ
Trọng Hoàn’ của sáchChứng Trị Chuẩn Thằng, dùng Đỗ trọng, Tục đoạn, Táo nhục
đều là những phương thuốc an thai. Tuy nhiên, Đỗ trọng tính của nó trầm mà giáng,
mà Tục đoạn cũng thông huyết mạch, nên thận hư làm cho động thai dùng nó trước
tiên là tốt vậy. Nếudo khí hư mà huyết không vững, mà lại dùng Đỗ trọng sẽ làm
cho khí hãm xuống không thăng lên được, gây ra thoát huyết không cầm. Điều này
thầy thuốc không thể không biết được (Trung Dược Học Giảng Nghĩa).

+ Tuy trên thực nghiệm, thuốc có tác dụng hạ áp
nhưng trên lâm sàng dùng độc vị Đỗ trọng tác dụng thấp (Trung Dược Ứng Dụng Lâm
Sàng).

Kiêng
kỵ khi dùng đỗ trọng

+ Ghét Huyền sâm, Xà thoái (Bản Thảo Kinh Giải).

+ Không phải Can Thận hư hoặc âm hư hỏa vượng:
không dùng (Đông Dược Học Thiết Yếu).

+ Âm hư có nhiệt: dùng thận trọng (Lâm Sàng
Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Đỗ trọng, do trong, dotrong - vị thuốc

Nói chuyện với thầy thuốc

Đỗ trọng, do trong, dotrong - vị thuốc

Chế độ ăn uống phòng và chữa bệnh ung thư

Đỗ trọng, do trong, dotrong - vị thuốc
Khỏi hẳn bệnh u não không cần phẫu thuật

Nơi mua bán vị thuốc ĐỖ TRỌNG đạt chất lượng ở đâu?

Trước thực trạng thuốc đông dược kém chất lượng, nguồn gốc không rõ ràng,… xuất hiện tràn lan trên thị trường, làm ảnh hưởng tới hiệu quả điều trị cũng như ảnh hưởng tới sức khỏe của bệnh nhân. Việc lựa chọn những địa chỉ uy tín để mua thuốc đông dược là rất quan trọng và cần thiết. Vậy khách hàng có thể mua vị thuốc ĐỖ TRỌNG ở đâu?

ĐỖ TRỌNG là vị thuốc nam quý, được sử dụng rộng rãi trong YHCT. Hiện tại hầu hết các cửa hàng thuốc đông dược, phòng khám đông y, phòng chẩn trị YHCT… đều có bán vị thuốc này. Tuy nhiên người mua nên chọn những địa chỉ có uy tín, đảm bảo chất lượng, có giấy phép hoạt động để mua được vị thuốc đạt chất lượng.

Với mong muốn bệnh nhân được sử dụng những loại dược liệu đúng, chất lượng tốt, Nhà thuốc Đông y An Nhiên Đường không chỉ là đia chỉ khám chữa bệnh tin cậy, uy tín chất lượng mà còn cung cấp cho khách hàng những vị thuốc đông y (thuốc nam, thuốc bắc) đúng, chuẩn, đạt chất lượng cao.

Các vị thuốc có trong tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam đều được nghành y tế kiểm nghiệm đạt chất lượng tiêu chuẩn.

Vị thuốc ĐỖ TRỌNG được bán tại Phòng khám là thuốc đã được bào chế theo Tiêu chuẩn NHT.

Giá bán vị thuốc ĐỖ TRỌNG tại Nhà thuốc Đông y An Nhiên Đường: 180.000vnd/1kg

Tùy theo thời điểm giá bán có thể thay đổi.

+ Khách hàng có thể mua trực tiếp tại địa chỉ phòng khám:

Văn Quán, Hà Đông, Hà Nội

+ Mua trực tuyến: Thuốc được chuyển qua đường bưu điện. Khi nhận được thuốc khách hàng thanh toán tiền COD.

Tag: cay do trong , vi thuoc do trong , cong dung do trong , Hinh anh cay do trong , Tac dung do trong , Thuoc nam

Annhienduong.com Tổng hợp

*************************

Tham gia bình luận

1 bình luận

Gửi bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.